THƯ ĐÁP TĂNG THIÊN DU

(8)

 THƯ ĐÁP TĂNG THIÊN DU

           PHỤ THƯ HỎI: 

          Lúc tôi ở Trường Sa được thư của Lão sư Viên Ngộ nói: "Ông lúc tuổi già tham thiền sở đắc rất là kỳ vĩ". Tôi nhiều lần nghĩ đến điều đó, nay đã tám năm rồi, thường hận chưa được đích thân nghe lời dạy bảo. Thật xiết bao ngưỡng mộ! 
        
Tôi từ ấu niên đã phát tâm tham lễ các bậc tri thức, cúi đầu đảnh lễ hỏi đến việc này. Từ tuổi trưởng thành về sau, bị việc hôn nhân và quan chức sai khiến nên việc dụng công chẳng được thuần nhất. Từ đó đến ngày nay, tuỗi đã già rồi, đối với điều chưa được học hỏi thường tự hổ thẹn thở than, lập chí phát nguyện nếu chẳng ngộ thì thôi, bằng ngộ thì phải thân chứng đến chỗ đại thôi nghỉ của người xưa mới thôi. Tâm này tuy chưa từng có một niệm lui sụt, nhưng tự biết công phu chưa được thuần nhất, có thể nói là chí nguyện lớn mà lực lượng nhỏ vậy.
        
Trước đây tôi có thống thiết thỉnh cầu Lão Sư Viên Ngộ khai thị, Lão Sư đã dạy cho tôi sáu đoạn pháp ngữ. Đoạn đầu tiên chỉ thẳng việc này, sau nêu ra hai công án "Núi Tu Di" (1) và "Buông xuống đi" (2) của Vân Môn và Triệu Châu. Ngài bảo suốt ngày âm thầm thường giữ nghi tình, lâu ngày ắt được ngộ nhập. Tâm Ngài từ bi thiết tha đến thế, ngặt vì tôi quá ngu dại. 
        Nay may mắn các việc trần duyên của tư gia đều xong cả, rảnh rang không bận việc gì, cũng chính là lúc tôi thống thiết tự cố gắng để thỏa mãn đền đáp lại cái chí nguyện ban đầu. Nhưng còn hận chưa được gần gũi để nghe lời Ngài dạy bảo.
       
Một đời bê bối đã cặn kẽ trình bày, chắc Ngài có thể soi thấu được tâm này, ngưỡng mong nhận được lời răn nhắc. 
       
Hàng ngày tôi phải dụng công như thế nào, ngõ hầu chẳng lạc vào lối khác, ngay thẳng khế ngộ tự tánh? 
         
Nói ra như thế cảm thấy rất hổ thẹn, nhưng tỏ lòng thành thật chẳng dám giấu giếm. Xin Ngài lượng tình thương xót cho. 
        
Kính bái. 

GHI CHÚ 

          (1): Có vị tăng hỏi Vân Môn: "Chẳng khởi một niệm có lỗi hay không?" Sư đáp "Lỗi bằng núi Tu Di".  
          (2): Có vị tăng hỏi Triệu Châu: "Lúc một vật chẳng đem đến thì thế nào?" Sư đáp: "Buông xuống đi". 

         THƯ ĐÁP TĂNG THIÊN DU -I-

       Theo thư ông đã trình bày, từ ấu niên cho đến lúc làm quan, ông đã từng tham lễ các bậc đại Tông sư, thời tráng niên ông bị khoa cử, hôn nhân, quan chức chi phối, lại bị các sự hiểu biết và thói quen xấu xa thắng thế nên công phu chưa thể thuần nhất được, và ông cho đó là một cái tội lớn. Ông lại hay thiết tha nghĩ đến thế gian vô thường, các pháp hư huyễn, không có chút gì gọi là vui mà chuyên tâm muốn tham cứu một đoạn đại sự nhân duyên này.  Như thế các điều đó rất hợp lòng tôi. 
        
Song đã là kẻ sĩ, sống nhờ lộc Vua thì khoa cử, hôn nhân, quan tước là những điều ở thế gian không ai tránh khỏi, cũng không phải là cái tội của ông. Vì một chút tội nhỏ mà sanh lòng lo sợ lớn, nếu chẳng phải do nhiều kiếp từ vô thủy đến nay đã từng thân cận bậc Thiện Tri Thức chân chánh, huân tập sâu xa chủng trí Bát Nhã thì đâu được như thế. Nhưng điều mà ông cho là cái tội lớn đó, hiền thánh cũng chẳng tránh được. Song, đã biết đó là pháp hư huyễn, chẳng phải cứu cánh, mà hồi tâm vào trong cửa này, dùng nước trí Bát Nhã (nghi tình) rửa sạch cấu nhiễm, ngay dưới chân cắt đứt tất cả tâm phan duyên không cho tương tục nữa là đủ rồi, không cần nhớ trước nghĩ sau vậy. Đã nói hư huyễn thì lúc làm cũng huyễn, lúc thọ cũng huyễn, lúc mê cũng huyễn, lúc giác cũng huyễn, quá khứ hiện tại vị lai thảy đều là huyễn. Hôm nay biết lỗi thì dùng thuốc huyễn để trị cái bệnh huyễn. Nếu bệnh lành ắt thuốc cũng bỏ, người thì vẫn y như củ, chỉ là người xưa kia thôi (1). Nếu đặt ra có người thật, có pháp thật, ấy là kiến giải của tà ma ngoại đạo vậy. Mong ông hãy suy xét kỹ! 

GHI CHÚ:

(1) Bệnh là mê, hết bệnh là ngộ, ngộ rồi mà chẳng trụ nơi ngộ nên nói đồng như chưa ngộ, nghĩa là vẫn như người thuở xưa vậy. 

         Chỉ cần tham mãi như thế thì luôn luôn ở trong thắng tịnh. Nhất là không được quên hai công án : "Núi Tu Di" và "Buông xuống đi". Chỉ cần trong tâm chân thật tham cứu đi! Việc đã qua không cần lo sợ, cũng không cần suy nghĩ, vì suy nghĩ, lo sợ đều là chướng đạo.
         
Chỉ cần phát đại thệ nguyện được gặp bậc Thiện Trí Thức, ngay dưới một lời liền dứt sanh tử, chứng ngộ vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, nối huệ mạng Phật hầu đền đáp thâm ân to tát của chư Phật. 
         
Nếu như thế thì lâu ngày không có lý gì mà không ngộ. Phải biết Thiện Tài Đồng Tử lúc ở trước Ngài Văn Thù phát tâm trải qua một trăm mười thành, tham vấn năm mươi ba vị Thiện Tri Thức, sau cùng đến chỗ Đức Di Lặc, trong khoảng búng ngón tay tức thì quên hết các pháp môn đã đắc từ các bậc Thiện Tri Thức trước (nghĩa là ngộ). Lại y theo lời Đức Di Lặc dạy, nghĩ muốn thân cận Ngài Văn Thù. Ngay lúc ấy Ngài Văn Thù từ xa duỗi cánh tay mặt qua một trăm mười do tuần đến xoa đầu Thiện Tài và bảo: “Lành thay! Lành thay! Thiện nam tử! Nếu lìa Tín căn thì tâm yếu kém, lo âu, ăn năn, công hạnh chẳng được đầy đủ, lui sụt sự cần mẫn tinh chuyên. Đối với một thiện căn tâm sanh trụ trước, được ít ở một ít công đức bèn cho là đủ là chẳng khéo phát khởi hạnh nguyện, chẳng được thiện tri thức nhiếp hộ, cho đến chẳng thể biết rõ pháp tánh như vậy, chỉ thú như vậy, pháp môn như vậy, sở hành như vậy, cảnh giới như vậy. Đối với những năng lực như cái biết cùng khắp, cái biết đủ thứ, cái biết triệt để, thấu triệt thâm sâu, diễn giải, phân biệt, ngộ giải, chứng đắc, thảy đều chẳng được”.
         
Ngài Văn Thù dạy Thiện Tài như thế, Thiện Tài ngay dưới lời nói này liền thành tựu vô lượng pháp môn, đầy đủ vô lượng quang minh đại trí, vào cửa Phổ Hiền. Ở trong một niệm thấy hết các vị thiện tri thức số nhiều như vi trần trong tam thiên đại thiên thế giới và được thân cận, cung kính, cúng dường, thọ giáo, được trí "niệm chẳng quên", trang nghiêm giải thoát. Nơi một lỗ chân lông của Ngài Phổ Hiền, siêu việt số thế giới cõi Phật nhiều như vi trần, bất khả thuyết, bất khả thuyết, đồng như Phổ Hiền, đồng như chư Phật, cõi đồng, hạnh đồng và giải thoát tự tại cả thảy đều đồng, không hai không khác. Lúc ấy, mới có thể chuyển ba độc tham, sân, si thành ba tụ tịnh giới (*), chuyển sáu thức thành sáu trần thông, chuyển phiền não thành Bồ Đề, chuyển vô minh thành đại trí. Những điều kể trên chỉ ở tại một niệm chân thật cuối cùng của đương nhân mà thôi. 

GHI CHÚ:

            (*) - Ba tu tịnh giới: 
            l- Nhiếp Luật nghi giới. 

           2- Nhiếp Thiện pháp giới. 
          3- Nhiều ích hữu tình giới.

          Như thế, Thiện Tài ở chỗ Đức Di Lặc trong khoảnh khắc búng ngón tay còn có thể bỗng quên tam muội sở chứng từ của các thiện tri thức, huống là những ác nghiệp, tập khí hư ngụy từ vô thủy ư! Nếu cứ cho các tội đã làm khi trước là thật thì cảnh giới trước mắt hiện nay cũng phải thật có, cho đến quan chức, phú quí, ân ái thảy đều là thật. Đã là thật thì địa ngục, thiên đàng cũng là thật, phiền não vô minh cũng là thật, người tạo nghiệp cũng thật, người chịu quả báo cũng thật, pháp môn đã chứng cũng thật. Nếu kiến giải như thế thì tận đời vị lai cũng không có người vào Phật thừa và các phương tiện của chư Phật chư Tổ trái lại trở thành vọng ngữ cả. 

          Theo lời ông nói, lúc gởi thơ nsày ông đã đốt hương lễ bái trước Phật, Tổ và từ xa hướng về am này cúi lạy rồi mới gửi. Ông thành tâm chí thiết đến thế, chúng ta tuy cách nhau không xa nhưng chưa có dịp giáp mặt đàm luận mà hôm nay ý tự nhiên nghĩ, tay tự nhiên viết, bất giác dông dài như thế này, đó chẳng qua là cũng xuất phát từ lòng chí thành, chẳng dám có một lời một chữ dối gạt nhau. Nếu như tôi dối ông là cũng tự dối vậy. 

         Tôi còn nhớ Thiện Tài tham kiến Bà La Môn tối tịch tịnh được "Chí thành” giải thoát. Chư Phật, Bồ Tát quá khứ, hiện tại, vị lai đối với vô lượng Bồ Đề đã không lui sụt, hiện không lui sụt, sẽ không lui sụt, phàm hễ cầu điều gì cũng được thành tựu viên mãn là đều do chí thành mà được. Ông đã cùng với ghế trúc, bồ đoàn làm bạn, chẳng khác nào Thiện Tài gặp Bà La Môn Tối Tịch Tịnh. Lúc gởi thư đến Vân Môn (**) này, ông còn đối trước Phật, Tổ và từ xa lễ lạy rồi mới gửi, và tha thiết muốn nhận được thư của tôi, đó là sự chí thành tột bực vậy. Hễ tin nhau thì hãy thực hành công phu như thế, tương lai nhất định sẽ thành tựu viên mãn Vô Thượng Bồ Đề không sai vậy. 

GHI CHÚ: 

            (**) Lời Ngài Đại Huệ tự xưng, vì Ngài trụ trì tại Chùa Vân Môn. 

THƯ ĐÁP TĂNG THIÊN DU -II-

        Ông xuất thân dòng phú quí mà chẳng bị phú quí trói buộc, nếu chẳng phải đời trước gieo trồng chủng trí Bát Nhã thì đâu thể được như vậy. Chỉ e ông quên ý này, bị thông minh lanh lợi chướng ngại, dùng cái tâm có sở đắc để cầu pháp vô sở đắc, nên chẳng thể ở nơi nguồn gốc cho một dao cắt đứt ngay đó thôi nghỉ như cổ nhân vậy. Bệnh nầy chẳng riêng sĩ phu trí thức mà tăng sĩ tham học lâu năm cũng mắc phải. Họ phần nhiều không chịu ở nơi ít phí sức làm công phu, chỉ dùng ý thức thông minh so đo suy nghĩ để hướng ngoại tìm cầu, chợt nghe thiện tri thức trước mặt khai thị về việc bổn phận vượt ra ngoài phạm vi ý thức thông minh so đo suy nghĩ thì lại bỏ qua. Lại tưởng Cổ Đức có pháp thật cho người. 
        
Ngài Nham Đầu (828-887) nói: "Buông vật là cao, chạy theo vật là thấp". Phải biết cương yếu của Thiền Tông cần nên biết cú (ngữ). Thế nào là cú? Khi chẳng nghĩ điều gì là chánh cú, cũng gọi là lịch lịch (rõ ràng), cũng gọi là tỉnh tỉnh, cũng gọi là “thế ấy”. Đem cái "thế ấy" đó để phá tan tất cả thị phi nhưng mới nói “thế ấy” thì chẳng phải “thế ấy” rồi, cho nên gặp cú quét cú gặp phi cú quét phi cú, giống như một đống lửa hồng, đụng gì cũng cháy, đâu thể có chỗ dựa. 
        
Sĩ phu trí thức thời nay phần nhiều đem suy nghĩ so đo làm nơi nương náu, mới nghe lời nói "thế ấy" bèn cho là lọt vào "ngoan không". Khác chi chỉ vì nghi sợ ghe chìm mà đã vội nhẩy xuống nước trước để bị chết đuối. Thật rất đáng thương xót! 
      
Gần đây, tôi có đến Giang Tây gặp Lữ Cư Nhân, Cư Nhân từ lâu, đã lưu tâm đến Tổ Sư Thiền này và cũng mang cùng một bệnh ấy. Ông ta đâu chẳng phải là người không thông minh ư! 
      
Tông Cảo tôi có hỏi ông: Ông sợ tôi rơi vào không, vậy ông có biết được người sợ đó là không hay là chẳng không? Thử nói xem! 
      
Ông ta ngẩm nghĩ muốn tìm câu trả lời, lúc ấy tôi liền hét cho một tiếng, cho đến ngày hôm nay ông ta vẫn còn mờ mịt, dò xét mặt mũi chẳng được. Đó là vì trước kia đã ôm cái tâm cầu ngộ, tự làm chướng nạn, chứ chẳng do việc gì khác. Nay Ông hãy thực hành Công phu tham Thiền như thế, lâu ngày chầy tháng tự nhiên sẽ được đến nơi. 
       
Nếu muốn đem tâm chờ ngộ, đem tâm chờ thôi nghỉ thì dù tham mãi đến Di Lặc hạ sanh cũng chẳng thể ngộ, cũng chẳng thể thôi nghĩ, trái lại càng thêm mê muội mà thôi.  
         Hòa Thượng Bĩnh Điền nói:

                            Thần quang bất muội
                             Vạn Cổ huy du
                             Nhập thử môn lai
                            Mạc tồn tri giải

Dịch nghĩa: 

                            Thần quang chẳng phải sáng tối
                            Luôn luôn chiếu soi vạn cổ
                            Những ai muốn nhập cửa này
                            Cần phải quét sạch tri giải

          Cổ Đức nói: "Việc này chẳng thể dùng hữu tâm cầu, chẳng thể dùng vô tâm đắc, chẳng thể dùng ngữ ngôn tạo, chẳng thể dùng im lặng thông". Trên đây là những lời tha thiết bậc nhất để dạy bảo hậu học mà thường thường người tham thiền chỉ đọc qua rồi thôi, không chịu xét nét kỹ lưỡng xem đó là đạo lý gì. Nếu là người có chí khí, vừa nghe nói đến liền ngay đó đem bảo kiếm Kim Cương Vương chém một nhát đứt bốn sợi xiềng xích này (bốn sợi xiềng xích là hữu tâm, vô tâm, nói, nín) như vậy thì đường sanh tử đứt, đường phàm thánh cũng đứt, so đo suy nghĩ cũng đứt, đắc thất thị phi cũng đứt, dưới gót chân người ấy sạch trơn không còn gì để nắm. Há chẳng khoái thay! Há chẳng sướng thay!
          
Xưa kia hòa Thượng Quán Khê lúc đầu tiên đến tham học Lâm Tế (?-867). Lâm Tế vừa thấy ngài, liền xuống thiền sàng, thình lình chụp ngay ngực ngài. Quán Khê buột miệng nói :”Lãnh rồi, lãng rồi”. Lâm Tế biết ngài đã ngộ liền buông ra và cũng không nói thêm một tiếng nào. Ngay lúc ấy Quán Khê làm sao suy nghĩ so đo mà trả lời được ? Từ xưa đến nay thật ít có người nêu được cái gương như thế, mà đời nay lại sơ xót chẳng để ý đến việc này , Quán Khê lúc đầu nếu sẵn tâm đợi ngộ, chờ chứng đợi thôi nghỉ, thì đừng nói bị Lâm Tế chụp ngực liền ngộ, dù cho có trói quách ông ta lại, dắt đi giáp vòng tứ thiên hạ cũng chẳng thể ngộ được, cũng chẳng thể được thôi nghỉ.
        
Những cái thường hay so đo sắp đặt ấy là hình thức, tùy theo sinh tử trôi nổi cũng là hình thức, sợ hãi kinh hoàng cũng là hình thức. Thế mà nay người ham học chẳng biết đó là bệnh mà cứ mãi mê lặn hụp trong đó, trong kinh gọi đó là “tu hành theo thức, chẳng theo trí”, do đó che khuất cái “bản địa phong quang” cái bản lai diện mục. Nếu một khi buông xuống được những so đo suy nghĩ, bổng dưng trược chân dẫm nhằm lổ mũi (kiến tánh) thì tình thức tức là chân không diệu trí, chẳng còn trí khác để đắc .Nếu có sở đắc sở chứng nào khác thì không đúng rối. Như người lúc mê thì gọi phương đông làm phương tây, đến khi ngộ thì chính phương tây đó chính là phương đông , chẳng có phương đông nào khác. Cái chân không diệu trí này có tuổi thọ bằng hư không. Trong hư không kia liệu có một vật nào làm chướng ngại được nó chăng? Dù chẳng bị một vật chướng ngại mà nó cũng không ngại các vật qua lại trong đó. Cái chân không diệu trí này cũng vậy, những sanh tử, phàm thánh, nhơ sạch, dính nó một chút cũng chẳng được, dù dính nó chẳng được mà nó cũng chẳng ngại sanh tử,phàm thánh qua lại trong đó. Như thế mà tin được nổi, thấy được suốt mới là người ra vào sanh tử được đại tự tại, mới có ít phần tương ưng với hai công án “Buông xuống đi” và “ Núi Tu Di”. Nếu không thì cứ gánh vác tòa núi Tu Di đi hành cước khắp nơi, kể rõ cho người mắt sáng đi ! 

                       THƯ ĐÁP TĂNG THIÊN DU -III- 

           Bàng Uẩn (Đệ tử tại gia của Mã Tổ) nói :

                         Chỉ cần bỏ hết các thứ hiện có.
                        
 Đừng đem vào cái mà mình không có.

        Hành được hai câu này thì một đời ham học tất đã xong vậy.
       
Ngày nay có bọn ngọai đạo trọc đầu, mắt nhìn chưa sáng mà cứ dùng cái lời chết cứng để dạy người thôi đi nghỉ đi. Nếu thôi nghỉ như thế thì đến ngàn phật ra đời cũng thôi nghỉ chẳng được, lại càng khiến cho tâm mê muội. Họ còn dạy người tùy duyên ứng phó, mặc chiếu quên tâm, quên tâm mặc chiếu, chiếu đi chiếu lại, ứng tới ứng lui, lại càng thêm mê muội không biết đến lúc nào mới xong. Thật là làm mất hết phương tiện của tổ sư, lầm chỉ dạy người, khiến người uổng qua một đời. Họ còn dạy người việc này chớ màng đến, cứ như thế nghỉ đi , nghỉ được tới tình niệm chẳng sanh, đến lúc ấy chẳng phải mờ mịt vô tri mà ngay đó là tỉnh tỉnh rõ ràng. Bọn này thật độc hại, làm mù mắt người, chẳng phải là việc nhỏ. Tôi thấy họ chẳng xem họ là con người. Bọn họ tự mình mắt chẳng sáng (chưa ngộ), chỉ đem lời trong kinh sách ra y theo đó dạy người (đọa vào văn tự). Cái ấy làm sao dạy được. Nếu tin bọn họ thì muôn kiếp tham chẳng được, vì tổ sư thiền là “Bất lập văn tự”.
       
Tôi bình thường không phải không dạy người tọa thiền hướng vào chổ tỉnh lặng để làm công phu, nhưng đó là tùy bệnh cho thuốc, chớ thực ra không có gì để chỉ thị người. Cũng như Hòa Thượng Hoàng Bá (?-850) nói:
      
”Thiền tông ta từ trước trao truyền đến nay chẳng từng dạy người cầu tri, cầu giải. ” Nói hai chữ học đạo cũng chỉ là lời tiếp dần mà thôi. Song đạo cũng không thể học , ý toan học đạo lại trở thành mê đạo. Đạo chẳng phương sở, gọi là tâm đại thừa. Tâm này chẳng ở trong, ngoài và chính giữa, thật không có nơi chốn, nhất là không được khởi tri giải. Chỉ nói với ông rằng chổ tình lượng hiện tại là đạo, tình lượng nếu sạch thì tâm thể trùm khắp mười phương. Đạo này thiên chân vốn không danh tự, chỉ vì người đời chẳng biết mà mê theo hình thức. Do đó chư phật ra đời nói rõ về việc này , sợ người không rõ nên nên phương tiện đặt tên là đạo, không nên chấp thật danh tự mà sanh tri giải.
      
Nãy giờ đề cập đến, đó là bọn mắt mù dùng lời bậy bạ dạy người, vì họ nhận lầm mắt cá làm minh châu, là kẻ dạy người chấp lấy danh tự mà sanh tri giải. Kẻ dạy người tùy duyên ứng phó, đó là kẻ chấp cái giác chiếu soi mà sanh tri giải. Kẻ đem lời chết cứng dạy người thôi đi nghỉ đi, đó là người giữ lấy cái không tịch quên tâm mà sanh tri giải.Dù thôi nghỉ đến vô giác vô tri giống như gỗ đá mà đương lúc ấy chẳng phải mờ mịt vô tri, đó cũng là kẻ nhận lầm lời nói phương tiện mở trói mà sanh tri giải. Kẻ dạy người tùy duyên quán chiếu đừng cho cái ác giác sanh khởi, đó là kẻ nhận lấy tình thức của hài cốt mà sanh tri giải. Kẻ dạy người chỉ cần phóng khoáng tự tại chớ màng đến việc sanh tâm động niệm vì niệm khởi niệm diệt vốn không có thật thể, nếu chấp là thật thì tâm sanh tử sanh khởi, đó là kẻ giữ lấy cái thể tự nhiên cho là pháp cứu cánh mà sanh tri giải. Các bệnh kể trên chẳng phải lỗi của người học đạo, mà do các tông sư mắt mù chỉ dạy tầm bậy mà thôi.
     
Ông đã tự ở nơi thanh tịnh, giữ cái tâm hướng đạo kiên cố chân thật, chớ lo công phu thuần nhất hay không thuần nhất. Chớ đem ngôn cú của người xưa chất thành cái tháp, hết lớp này đến lớp khác, uổng dụng công phu không biết lúc nào mới xong. Chỉ cần chú tâm ở một chổ, khi thời tiết nhân duyên đến thì tự nhiên nghi tình bùng vỡ, muốn không ngộ cũng chẳng được.
       
Hỏi : - Chẳng khởi một niệm có lỗi hay không ?
       
Đáp : - Lỗi bằng núi Tu Di !
       
Hỏi : - Lúc một vật chẳng đem đến là thế nào ?
       
Đáp :- Buông xuống đi !Chỗ này cái nghi chẳng phá vỡ thì phải ở chổ này tham mãi, chớ nên tự sanh nhánh lá. Nếu ông tin được lời tôi thì cứ như thế tham đi, chẳng còn Phật pháp nào khác để dạy người.
      
Bằng tin không nỗi :
                     Mặc tình hỏi khắp người thiên hạ,
                   
 Một hồ nghi thêm một hồ nghi.     

      THƯ ĐÁP TĂNG THIÊN DU -IV-

            Đọc kỹ thư mới biết ông trong bốn oai nghi ( đi, đứng, nằm, ngồi ) không có lúc nào công phu gián đoạn. Chẳng bị công phu bận rộn đoạt mất, lúc ở trong dòng thác lũ của thế sự cũng luôn tự tỉnh giác, không buông lung, đạo tâm càng ngày càng kiên cố. Như thế rất hợp lòng tôi.
        
Nhưng trần lao thế gian như lửa cháy hừng hực biết đến bao giời mới tắt, phải ngay trong chổ náo động mà chẳng quên việc tham cứu. Trước kia để tâm nơi chổ tĩnh lặng thì nay phải dụng tâm ở chổ náo động. Nếu ở chổ náo động chẳng đắc lực thì có khác nào chưa từng dụng công phu nơi tĩnh lặng.
       
Việc ông tự than :”Do đó ác duyên kiếp trước mà nay phải chịu quả báo này”. Thế thì không đúng, nếu ông nghĩ như thế là chướng đạo vậy.
       
Cổ Đức nói :
                   
Theo dòng nhận được tánh
                   
Chẳng buồn cũng chẳng vui.

        Duy Ma Cật nói :” Ví như cao nguyên đất khô chẳng sanh hoa sen mà nơi bùn lầy ẩm thấp mới mọc hoa này”.
      
Phật nói :”Tự tánh chẳng giữ chân như tùy duyên mà thành tựu tất cả pháp”. Lại nói :”Tùy duyên cảm ứng khắp mọi nơi mà thường ở tại tòa Bồ Đề “. Như vậy há dối người ư!
       
Nếu cho chỗ tĩnh lặng là phải, chỗ náo động là chẳng phải, ấy là hoại tướng thế gian mà cầu thực tướng, lìa sanh diêt mà cầu tịch diệt. Ngay lúc thích tĩnh lặng ghét náo động chính là lúc nên dụng công phu. Bỗng nhiên ở chỗ náo động đụng ngã cái tin tức của lúc tĩnh lặng (vỡ nghi tình) thì cái sức mạnh hơn lúc ngồi im lặng trên bồ đoàn gấp vạn ức lần. Hãy nghe lấy lời tôi, chắc chắn không lừa gạt ông đâu !
      
Lại nữa, ông lấy hai câu của Bàng Uẩn làm châm ngôn trong lúc đi đứng nằm ngồi là tốt nhất. Nếu đang lúc náo động mà sanh lòng chán ghét đó là tự làm nhiễu loạn tâm mình. Nếu lúc động niệm chỉ cần nhớ đến hai câu của Bàng Uẩn thì như lúc bệnh nóng được thuốc mát vậy. Ông là người đại trí tuệ, đã đủ niềm tin quyết định dụng công trong chỗ tĩnh lặng lâu ngày rồi, nên tôi mới dám nói lời này. Còn đối với người khác tôi không nên nói. Nếu nói lời này với kẻ tăng thượng mạn nghiệp thức mang mang, ắt sẽ làm nặng thêm gánh ác nghiệp cho họ.
       
Các thứ bệnh trong thiền môn, ở thư trước tôi đã trình bày, không biết ông đã lý hội kỹ càng chưa ?

THƯ ĐÁP TĂNG THIÊN DU -V-

        Thư ông nói rằng :- Ngoài dứt các duyên, trong tâm không lay động là cửa phương tiện có thể vào đạo. Mượn cửa phương tiện để vào đạo thì được, nếu nắm phương tiện chẳng buông thì trở thành bệnh.
      
Thực đúng như lời ông nói, Sơn Tăng này đọc xong vui mừng biết bao. Ngày nay tông sư ở các nơi, nắm lấy phương tiện chẳng buông cho là pháp thật dùng để chỉ dạy người, thế nên làm mù mắt người chẳng ít. Do đó Sơn Tăng cần phải phân biệt tà chánh để cứu giúp họ. Thời gian gần đây, ma mạnh pháp yếu, người chấp “ trạm nhập hợp trạm” (*) cho là cứu cánh nhiều không kể xiết, còn người nắm phương tiện chẳng buông làm tông sư cũng nhiều như hằng sa. Sơn Tăng lúc gần đây thường đem hai hạng người này nói với các thiền giả. Thật chính là đúng như ông đã nói vậy, nếu chẳng phải ông lưu tâm trong Bát Nhã, niệm niệm không gián đoạn, thì không thể nào thấu suốt cái phương tiện đặc biệt của chư thánh thuở xưa.
      
Ông đã nắm được cái cán rồi, đã nắm được cán trong tay rồi còn lo gì mà chẳng bỏ cửa phương tiện để vào đạo ư ! Chỉ cần thực hành công phu như thế này: như xem những ngôn cú sai biệt trong kinh điển và ngữ lục của người xưa cũng chỉ thực hành công phu như thế. Như những công án “Núi Tu Di “ , “Buông xuống đi”. “ Con chó không phật tánh “(1), thoại đầu “cây gậy”, “Một hớp uống hết nước Tây Giang “(2),”Cây bách trước sân” (3)…, cũng chỉ thực hành công phu như thế. Vậy không được sanh cái tri giải nào khác, cầu cái đạo lý nào khác để làm tài năng khéo léo. Ông có thể ở trong lúc công việc vội gấp mà luôn luôn thực hành công phu như thế, nếu tạo nghiệp không thành tựu thì phật pháp không linh nghiệm vậy. Xin ông hãy nhớ cho !
      
Thư ông nói ban đêm chiêm bao thấy đốt nhang vào thất của Sơn Tăng rất thong thả. Về việc này ông không nên cho là mộng, mà hãy cho là nhập thất chân thật.
      
Cũng như công án Xá Lợi Phất hỏi Tu Bồ Đề :- Trong mộng nói sáu ba-la-mật so với lúc thức nói là đồng hay là khác.
      
Tu Bồ Đề đáp : - Nghĩa này rất thâm sâu, tôi không thể nói, trong hội này có Đại Sĩ Di Lặc, ông hãy qua hỏi ngài.(4)Ôi ! thật quá lòng vòng.
       
Ngài Tuyết Đậu nói :- Khi ấy nêu chẳng bỏ qua thì nên theo đó cho một dùi. Ai tên Di Lặc ? Ai là Di Lặc ? Liền thấy băng tan ngói bể.
       
Ôi !Tuyết Đậu cũng lòng vòng quá.
       
Có người hỏi :- Cũng như Tăng Thiên Du lúc mới mộng thấy vào thất của Sơn Tăng, thử nói xem lúc mộng với lúc thức là đồng hay khác ?
      
Sơn Tăng bèn nói với họ rằng :- Ai là người vào thất ? Ai làm người vào thất ? Ai là người mộng ? Ai là người nói về việc mộng? Ai là người chẳng cho là mộng ? Ai là người thật vào thất ? Ôi ! cũng lòng vòng quá đi.

LƯỢC GIẢI:

           (*) Trong kinh Lăng Nghiêm nói :” Trạm nhập hợp trạm” là bờ bến của thức ấm. Thức gọi là Trạm Liễu (trong lặng sáng suốt), dụ cho đã diệt sanh diệt, thì tánh thức nhập vào chổ cội gốc trong lặng, mà hợp với Trạm Nhiên, có nhập có hợp, tức là bờ bến của Thức Ấm.
        
Vì Trạm Nhập là Thức Ấm, Trạm Xuất là Hành Ấm, Chân Tánh chẳng gọi là Trạm Nhập là vì cùng khắp pháp giới, nên chẳng có xuất nhập, nay nói Trạm Nhập là dần dần đi vào, cho đến nhập vô sở nhập, cho đến chổ chẳng sanh diệt vậy.
       
Xuất nhập ly hợp là pháp tương đối, cứu kính là pháp tuyệt đối nên ngày Đại Huệ quở người chấp Trạm-Nhập-Hợp-Trạm cho là pháp cứu kính là tông sư mắt mù.

GHI CHÚ:

         (1) Con chó không phật tánh :Tăng hỏi Triệu Châu: “Con chó có phật tánh hay không ?”Sư đáp:” Không”
         
(2)Một hớp uống hết nước Tây Giang:Bàng Uẩn hỏi Mã Tổ:” Ai là người chẳng cùng vạn pháp làm bạn ?”Mã Tổ đáp: “Đợi khi ông một hớp uống hết nước Tây Giang ta sẽ nói cho nghe”
       
(3) Cây bách trước sân:Tăng hỏi Triệu Châu: “ Thế nào là ý tổ sư từ Ấn Độ sang ?”Sư đáp: “ Cây bách trước sân”.
      
(4)Công án Xá Lợi Phất hỏi Tu Bồ Đề về việc trong mộng so với lúc thức: Xá Lợi Phất hỏi Tu Bồ Đề:”Trong mộng nói sáu Ba La Mật so với lúc thức nói là đồng hay là khác?”Tu Bồ Đề đáp:”Nghĩa này rất thâm sâu, tôi không thể nói. Trong hội có đại sĩ Di Lặc, ông hãy qua hỏi Ngài.”Xá Lợi Phất qua hỏi Di Lặc, Di Lặc nói : ”Ai là Di Lặc ? Ai tên Di Lặc ?”

THƯ ĐÁP TĂNG THIÊN DU -VI-

       Thư đến tôi đọc kỹ mấy lượt, đủ thấy ông có tấm lòng sắt đá, lập chí quyết định chẳng chịu lôi thôi. Tham thiền được như thế thì đến ngày lâm chung cũng có thể cùng Diêm Vương đối địch. Đó là chưa nói đến chuyện mở to con mắt trên đảnh (khai ngộ), nắm chuôi kiếm Kim Cương Vương ngồi trên đảnh Tỳ Lô (triệt ngộ).
       
Tôi đã từng nói với các đạo hữu rằng:
       
- “ Ngày nay người học đạo chỉ cần mau có hiệu quả mà chẳng biết thế là lầm. Trái lại họ còn nói :”Vô sự ít duyên, tĩnh tọa thể cứu là uổng qua thì giờ, chẳng cần xem vài quyển kinh, niệm vài tiếng phật, trước phật lễ vài lạy sám hối những tội lỗi bình sanh đã tạo cốt để khỏi ăn gậy sắt của Diêm Vương”. Đấy là việc làm của kẻ ngu. Bọn đạo gia ngày nay toàn dùng tâm vọng tưởng, quán tưởng tinh hoa của nhật nguyệt, suốt sáng chiều hớp khí trời mà còn có thể lưu hình hài ở lại đời. Huống là chuyển tâm này hoàn toàn là trong Bát Nhã ư !”
          
Bậc thánh xưa có nói rõ ràng : “ Ví dụ côn trùng Thái Mạc (vô cùng nhỏ) chỗ nào cũng đậu được kể cả hư không, duy chẳng thể đậu trên ngọn lửa. Chúng sanh cũng thế, chỗ nào cũng thể duyên, duy chẳng thể duyên trên Bát Nhã. Ví như niệm niệm chẳng thối sơ tâm, đem cái tâm thức duyên theo trần lao thế gian (tập khí) mình trở lại đặt trên Bát Nhã để dụng công, đời này dẫu chưa thấu triệt thì đến lúc lâm chung nhất định cũng chẳng bị nghiệp ác kéo đi lưu lạc váo ác đạo. Đời sau vừa lọt lòng sẽ theo nguyên lực đời này mà quyết định được ở trong Bát Nhã, sẵn sàng thọ dụng. Đây là việc chắc chẳn không nên nghi ngờ”.
      
Việc trong phạm vi chúng sanh chẳng cần học vì tập khí cho người từ vô thủy đã thuần thục, đường lối cũng đã quen, thì tự nhiên ham chấp lấy nó, khó mà bỏ được. Nay cấn phải dụng công để trừ sạch nó đi !
      
Tâm xuất thế gian học Bát Nhã, từ vô thủy đến nay bị chống trái, nên khi chợt nghe bậc thiện tri thức nói đến nó thì tự nhiên chẳng lý hội được. Vậy cần phải quyết chí dùng Bát Nhã để đối trị tập khí .
       Bát Nhã và tập khí không bao giờ cùng chung được. Có tập khí thì không có Bát Nhã, có Bát Nhã thì không có tập khí. Nếu ở đây (nghi tình) được đi sâu vào tập khí chẳng trừ mà tự trừ và các tà ma ngoại đạo cũng tự nhiên chạy trốn mất. Công phu lâu ngày thì chỗ lạ (nghi tình) trở thành quen, chổ quen (tập khí) trở thành lạ. Làm đúng như vậy thì chỗ thực hành công phu hằng ngày nắm được cán, dần dần cảm thấy ít phí sức, ấy là chổ đắc lực rồi vậy.