THƯ ĐÁP

(9)

THƯ ĐÁP LÂU KHU MẬT

Chẳng biết sau khi chia tay chỗ ứng duyên hàng ngày ông chẳng bị ngoại cảnh lôi kéo chăng? Đối với những văn kiện chất trên bàn làm việc có thể gạt qua một bên chăng? Khi gặp người tiếp vật có bị lay động chăng? Ở nơi tịch tịnh có nổi vọng tưởng chăng? Đối với tham thiền có tạp niệm xen vào chăng? 
        
Phật nói: 
                   
Tâm chẳng vọng lấy pháp quá khứ,
                    Cũng chẳng tham đắm việc vị lai,
                    Ở nơi hiện tại vô sở trụ,
                    Liễu đạt tam thế đều không tịch.
       
Việc quá khứ hoặc thiện hoặc ác chớ nên suy lường, suy lường thì chướng đạo. Việc vị lai chớ nên tính toán, tính toán ắt cuồng loạn. Việc hiện tại ở trước mắt hoặc thuận hoặc nghịch cũng chớ nên để ý, để ý thì trong tâm bị nhiễu loạn. Cuộc sống hàng ngày tùy duyên ứng phó, tất cả chỉ xem là tạm thời thì sẽ thích ứng tự nhiên. 
       
Gặp cảnh giới nghịch còn dễ tu, gặp cảnh giới thuận mới là khó. Lúc nghịch ý ta chỉ cần một chữ nhẫn chốc lát liền qua được, lúc cảnh giới thuận thì thật là chẳng có chỗ để trốn tránh, vì cảnh giới thuận ý mình ham thích như nam châm hút sắt dính chặt một chỗ. Vật vô tình còn vậy huống là vô minh hiện hành toàn thân sống trong đó. Gặp cảnh giới này nếu chẳng có trí tuệ thì bất tri bất giác bị nó lôi kéo vào lưới ma, muốn tìm đường ra thật là khó. Cho nên bậc Thánh xưa có nói: "Nhập được thế gian thì xuất thế gian không còn dư", tức là đạo lý này vậy.
        
Gần đây có một số người tu hành lạc mất phương tiện, luôn luôn nhận vô minh hiện hành là nhập thế gian, bèn đem pháp thế gian cưỡng cho là việc "xuất thế gian không còn dư". Thật đáng thương xót! Duy Ma Cật có nói: "Phật vì những kẻ tăng thượng mạn mà thuyết pháp lìa dâm nộ si là giải thoát. Nếu những người không phải tăng thượng mạn thì Phật nói tánh dâm nộ si tức là giải thoát". Nếu tránh được lỗi này thì ở nơi cảnh giới thuận nghịch chẳng có tướng khởi diệt, ấy mới lìa được tên gọi tăng thượng mạn. Như thế mới có thể cho là nhập được thế gian và xuất thế gian không còn dư. Những điều nói trên đều là chỗ Diệu Hỷ tôi đã từng trải qua, hiện nay cũng chỉ tu hành như thế. Mong ông thừa lúc cơ thể còn khỏe mạnh cũng nhập tam muội này.  

 (10)

KHAI THỊ KHÔNG HUỆ

            Dù được thân tâm yên tịnh vẫn cần phải nỗ lực, chớ nên hướng vào chỗ yên tịnh mà sanh tâm thích thú. Trong giáo môn nói đó là hầm sâu giải thoát rất đáng sợ hãi. Cần phải như hồ lô xoay chuyển trên mặt nước, tự do tự tại chẳng bị dính mắc, vào dơ vào sạch chẳng ngại chẳng chìm, mới được ở dưới cửa thiền có chút phần thân cận. Nếu chỉ ôm chặt được "đứa bé không khóc" thì đâu có tác dụng gì!  

 (11)

KHAI THỊ NGHIÊM TỬ KHAM

          Ngài Lâm Tế nói: "Nếu ngươi luôn luôn ngưng được cái tâm tìm cầu thì so với Phật Thích Ca chẳng khác". Lời này chẳng phải dối người. Như Thất Địa Bồ Tát, cái tâm cầu Phật trí chưa đầy đủ còn bị gọi là phiền não. Thực là chẳng có chỗ để sắp đặt, dính mắc một chút vật gì bên ngoài cũng không được.
         
Mấy năm trước có một vị cư sĩ họ Hứa chỉ nhận được cái cửa bên ngoài, bèn gửi thư đến trình kiến giải rằng: "Ứng dụng hàng ngày nơi trống rỗng, chẳng có một vật để đối đãi, mới biết vạn pháp trong tam giới tất cả vốn là không có. Buông xuống hết thực là an lạc sung sướng". Do đó ta khai thị cho một bài kệ rằng: 
              
Chớ luyến chỗ thanh tịnh, 
               Thanh tịnh khiến người mê.
               Chớ luyến chỗ sung sướng,
               Sung sướng khiến người cuồng.
               Như nước theo đồ đựng,
               Tùy vuông tròn dài ngắn.
               Buông xuống, không buông xuống,
               Lại xin suy nghĩ kỹ.
               Tam giới và vạn pháp,
               Có quê nào để về? 
               Nếu cứ chấp như thế,
               Việc này rất chống trái.
               Báo cho Hứa cư sĩ,
               Người nhà tự làm hại.
               Mở rộng thiên thánh nhãn,
               Chẳng cần sự mong cầu.

 (12)

 KHAI THỊ CHÂN NHƯ

        Tâm chẳng tìm cầu, chẳng vọng tưởng, chẳng duyên các cảnh thì ngay chỗ nhà lửa trần lao này tức là chỗ giải thoát ra khỏi tam giới. 
        
Phật chẳng nói sao: "Nơi tất cả cảnh vô y, vô trụ, vô phân biệt, thấy rõ pháp giới quảng đại an lập, liễu đạt tất cả pháp thế gian bình đẳng bất nhị, nên Viễn Hành Địa Bồ Tát dũng sức trí huệ của mình tự động siêu việt tất cả nhị thừa, dù được cảnh giới Phật mà thị hiện trụ cảnh giới ma, dù siêu việt đạo ma mà hiện hạnh pháp ma, dù thị hiện hạnh đồng như ngoại đạo mà chẳng bỏ Phật Pháp, dù thị hiện tùy thuận tất cả thế gian mà thường hành tất cả pháp xuất thế gian". Đây là chân phương tiện trong nhà lửa trần lao vậy. 
        
Người học Bát Nhã nếu bỏ phương tiện này tùy thuận trần lao, ắt phải bị ma nhiếp trì. Lại còn ở nơi cảnh tùy thuận gượng nói đạo lý rằng: "Phiền não tức Bồ Đề, vô minh tức đại trí". Chân thì đuổi theo có, miệng thì đàm luận không, thật chẳng biết tự trách mình bị nghiệp lực lôi kéo, lại còn dạy người xóa bỏ nhân quả. Bọn này bị tà ma ác độc xâm nhập tâm căn, muốn ra khỏi trần lao cũng như tạt dầu để cứu hỏa. Thật đáng thương xót! Nên biết đã triệt ngộ rồi mới có thể nói: "Phiền não tức Bồ Đề, vô minh tức đại trí". Trong diệu tâm vốn quảng đại, tịch diệt, trong sạch, sáng tỏ cũng như hư không chẳng có một vật gì có thể làm chướng ngại. Vậy thì chữ Phật cũng còn là vật bên ngoài, huống chi còn có vô minh, phiền não để làm đối đãi ư!

  (13)

 THƯ ĐÁP TỪ ĐÔN TẾ

       Việc này tỏ rõ như ban ngày, trong trẻo, sáng sủa, không biến, không động, không thêm, không bớt, chỗ tiếp xúc hàng ngày ở ngay mỗi người đều ứng hiện rõ ràng, nắm giữ nó thì không được, buông xả nó thì thường còn thênh thang vô ngại, bát ngát rỗng không, như trái hồ lô trên mặt nước, lôi kéo chẳng được, cột trói nó chẳng được. Các bậc đắc đạo từ xưa đến nay được nó rồi, vào trong biển sanh tử trồi lên hụp xuống toàn thể thọ dụng không thiếu, không dư, như chiết cây chiên đàn thì mỗi nhành đều là chiên đàn, vậy sanh tử trần lao từ đâu khởi. Lúc thu nhận kết quả lại dính mắc vào chỗ nào? 
        
Đã không có chỗ dính mắc thì Phật là huyễn, pháp là huyễn, tam giới, thập nhị xứ, thập bát giới đều rỗng không. Đến được chỗ này thì một chữ Phật còn không dính dáng. Vậy Chân Như, Phật Tánh, Bồ Đề, Niết Bàn chỗ nào mà có? Nên Bố Đại Sĩ nói: "Sợ người sanh đoạn kiến, mới tạm lập giả danh". Người học đạo không hiểu, cứ trong nhân duyên học đạo của cổ nhân cầu huyền cầu diệu, cầu kỳ lạ, tìm tri giải, chẳng thể "thấy trăng quên ngón" ngay đó một dao cắt đứt.
      
Cũng như ngài Vĩnh Gia nói: 
                 
Trong nắm tay không chấp có thật,
                 Tâm cảnh tương sanh vọng kiến lập.
      
Cứ ở trong trần lao vọng sanh kiến chấp, tự trói buộc mình, Như Lai nói là kẻ đáng thương xót.  Hòa Thượng Nham Đầu nói: "Ngươi chỉ cần vô dục, vô y, tức là Phật". Thực ra chỉ có một cục thịt do cha mẹ sanh, nếu một hơi thở không đến liền biến thành vật khác. Ngoài cục thịt này ra đâu còn cái gì khác. Vậy lấy gì làm kỳ lạ, huyền diệu, lấy gì làm Bồ Đề, Niết Bàn, lấy gì làm Chân Như, Phật Tánh? Bậc sĩ phu trí thức muốn tham cứu việc này, không hướng theo thực tế, lại ở trên công án người xưa cầu tri cầu giải, dẫu cho tri cùng, giải tận, biết hết cả đại tạng giáo điển, khi ngày cuối cùng sanh tử đến thì một chút cũng dùng không được. 
       
Còn có một số người mới vừa nghe thiện tri thức kể việc này, lại đem tâm ý thức so sánh suy lường rằng: Nếu như thế chẳng phải lọt vào "không" sao? Đối với những người này, Diệu Hỷ bất đắc dĩ nói với họ: "Ông chưa từng được "không" lấy gì để sợ, như đi ghe chưa chìm đã vội nhảy xuống nước". Thấy họ chưa hiểu nên tôi không tiếc khẩu nghiệp nói dài dòng thêm: "Cái sợ lọt vào không đó còn có "không" được chăng?"  Nghĩa "không" là hiển bày sự dụng: Mắt ông nếu chẳng không thì lấy gì để thấy sắc, tai ông nếu chẳng không thì lấy gì để nghe tiếng, mũi ông nếu chẳng không thì lấy gì để ngửi, lưỡi ông nếu chẳng không thì lấy gì để nếm, thân ông nếu chẳng không thì lấy gì để cảm giác, ý ông nếu chẳng không thì lấy gì để phân biệt vạn pháp? 
       
Phật nói: "Vô nhãn nhĩ tỷ thiệt thân ý, vô sắc thanh hương vị xúc pháp, vô thập nhị xứ, thập bát giới, cho đến Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, Phật, và Bồ Đề, Niết Bàn, Chân Như, Phật Tánh, tất cả pháp của Phật thuyết và kẻ thuyết pháp này, kẻ nghe pháp này, kẻ thuyết ra như thế, kẻ thọ cái thuyết như thế, thảy đều chẳng có". Được như thế rồi gọi là không ư? Gọi là bất không ư, gọi là Phật ư, gọi là Bồ Tát ư, gọi là Thanh Văn ư, gọi là Duyên Giác ư, gọi là Bồ Đề, Niết Bàn ư, gọi là Chân Như, Phật Tánh ư?
       
Nếu tự cho ta thông minh lanh lợi chẳng bị người gạt thì xin hướng vào chỗ này xem xét cho đúng. Nếu xem xét ra được thì ở trong am cũng như ở ngoài cửa, còn xem xét chẳng ra thì rất kỵ khoa trương nói lời quá lố. Kẻ đại trượng phu muốn tham cứu việc đại sự nhân duyên này cần phải không màng đến thể diện, tâm dũng mãnh đứng thẳng, chớ chìu theo tình cảm, đem chỗ nghi của mình dán lên trên trán, hàng ngày tự như thiếu nợ người muôn triệu, bị người đòi nợ đuổi theo, chẳng có gì để trả nợ, sợ bị người sỉ nhục, không muốn gấp cũng phải gấp, không muốn bận rộn cũng phải bận rộn, không việc gì lớn hơn việc này, như thế mới có phần xu hướng. Suốt ngày suốt đêm, lúc uống trà ăn cơm, lúc vui lúc giận, chỗ sạch chỗ dơ, chỗ vợ con tụ tập, chỗ tiếp khách, chỗ làm việc, chỗ con cái cưới gã, đều là thời tiết cảnh giác để làm công phu. 
       
Xưa kia Lý Văn Hòa làm Thừa tướng trong phú quí tham thiền được đại ngộ, Dương Văn Công làm quan chức Hàn lâm tham thiền được ngộ, Trương Vô Tận đốc xứ tỉnh Giang Tây cũng tham thiền được ngộ, chỉ ba ông này đủ làm mô phạm "chẳng hoại tướng thế gian mà chứng thực tướng" vậy. Cần phải bỏ vợ con, từ quan chức, ăn mặc cực khổ, tránh náo động cầu vắng lặng, vào trong hang quỷ ngồi thiền như cây khô rồi mới được ngộ đạo? 
          
Bàng Uẩn nói: 
              
Hễ tự vô tâm nơi vạn vật,
               Đâu sợ vạn vật thường nhiễu quanh.
               Trâu sắt không sợ sư tử rống,
               Giống như người gỗ thấy con chim.
               Bản thể người gỗ vốn vô tình,
               Con chim gặp người cũng không sợ. 
               Tâm cảnh như như chỉ thế này, 
               Lo gì Bồ Đề đạo chẳng thành.
        
 
Ở trong trần lao thế tục được không quên việc sanh tử, dù chưa thể kiến tánh nhưng cũng gieo được hạt giống Bát Nhã thâm sâu, kiếp khác ra đời cũng ít phí sức, cũng không đến nỗi lưu lạc trong ác đạo, hơn người đắm nhiễm trần lao chẳng cầu giải thoát, cứ nói việc này không dễ gì. Người đời phần nhiều có kiến giải như thế, thực đáng thương xót! 

(14)

KHAI THỊ TĂNG THÚC TRÌ

          Cổ Đức nói: "Từ xưa nay vốn chẳng có pháp để cho người, chỉ vì người chỉ đường mà thôi". Lại nói: "Hễ có sở đắc là chó sói kêu, vô sở đắc là sư tử rống". Phật là người thông suốt, trong bốn mươi chín năm thuyết pháp hơn ba trăm sáu mươi hội, tùy căn tánh chúng sanh mà dẫn dắt họ, nên ở trong mười pháp giới giảng thuyết một âm, chúng sanh tùy loại mỗi mỗi đều được lợi ích. Ví như gió đông thổi qua một cái thì muôn ngàn bông hoa cùng rộ nở, Phật thuyết pháp cũng như thế. Nếu có ý nơi mười pháp giới để làm lợi ích cho là có ta thuyết pháp, cho là có chúng sanh được độ, vậy thành có ngã chấp rồi.  Như Xá Lợi Phất ở trên hội Bát Nhã hỏi Văn Thù rằng:
          -  Chư Phật có giác ngộ pháp giới chăng? 
        
Văn Thù đáp:
         -   Không. Xá Lợi Phất! Chư Phật còn bất khả đắc thì làm sao có Phật mà giác ngộ pháp giới! Pháp giới cũng bất khả đắc thì làm sao có pháp giới cho chư Phật giác ngộ! 
        
Xem qua sự vấn đáp của hai Ngài thì đâu từng trụ vào chỗ nào. Từ xưa chư Phật chư Tổ thuyết pháp đều có thể cách như thế, chỉ vì con cháu sau này thất lạc tông chỉ, mỗi mỗi tự lập môn phái, tác yêu tác quái mà thôi. 

(15)

 THƯ ĐÁP HỨA THỌ NGUYÊN

        Ông đủ lòng tin chân chánh, lập chí chân chánh, đó là nền tảng để thành Phật làm Tổ vậy. 
        
Kẻ quê mùa này lấy hai chữ Trạm Nhiên đặt làm danh hiệu cho ông, như nước trạm nhiên (lóng trong) chẳng động thì hư minh tự chiếu, chẳng nhọc tâm lực. Pháp thế gian và xuất thế gian chẳng ngoài trạm nhiên, không mảy may sót lọt. Chỉ dùng cái ấn này ấn định hết thảy chỗ, không gì phải, không gì chẳng phải, mỗi mỗi đều giải thoát, mỗi mỗi đều minh diệu, mỗi mỗi đều chân thật, lúc dùng cũng trạm nhiên, lúc không dùng cũng trạm nhiên. 
       
Tổ Sư nói: "Hễ có tâm phân biệt so đo cái tự tâm hiện lượng thì thảy đều là mộng". Nếu tâm thức tịch diệt, chẳng có chút động niệm, gọi là chánh giác. Giác đã chánh thì hàng ngày trong mười hai thời thấy sắc, nghe tiếng, ngửi mùi, nếm vị, cảm giác, phân biệt, đi, đứng nằm, ngồi, nói, nín, động, tịnh thảy đều trạm nhiên, cũng chẳng tự khởi tưởng điên đảo, có tưởng, không tưởng thảy đều thanh tịnh. Đã được thanh tịnh, lúc động thì hiển bày cái dụng của trạm nhiên, lúc bất động thì quy về thể của trạm nhiên. Thể dụng tuy khác mà trạm nhiên là một, như chiết cây chiên đàn thì mỗi nhánh đều là chiên đàn.
      
Ngày nay có một bọn tà sư "đặt điều", sự ngộ của họ chẳng thật cứ dạy người nhiếp tâm tĩnh tọa, ngồi đến bặt hơi thở. Bọn này thật đáng thương xót!
       
Ông hãy thực hiện công phu như lời tôi chỉ dạy. Kẻ quê mùa này có dạy ông như thế cũng chỉ là chuyện bất đắc dĩ, nếu thật có việc thực hiện công phu như thế tức là làm nhiễm ô ông. Tâm này vốn chẳng thực thể thì làm sao thu nhiếp được? Thu nhiếp rồi đặc ở chổ nào? Đã không có chỗ đặt thì vô thời, vô tiết, vô cổ, vô kim, vô phàm, vô thánh, vô đắc, vô thất, vô tịnh, vô loạn, vô sanh, vô tử, cũng không có cái tên trạm nhiên, cũng không có cái thể trạm nhiên, cũng không có cái dụng trạm nhiên, cũng không có người nói trạm nhiên, cũng không có người nhận lời nói trạm nhiên. 

 (16)

KHAI THỊ TRẦN MINH TRỌNG

                         Phật thuyết tất cả pháp,
                         Vì độ tất cả tâm.
                         Ta chẳng tất cả tâm,
                         Đâu cần tất cả pháp.
      
 
Pháp vốn vô pháp, tâm cũng vô tâm, tâm pháp đều không, là tướng chân thật. Hiện nay người học đạo phần nhiều sợ lọt vào không, kiến giải như thế là lầm nhận phương tiện, cho bệnh là thuốc, rất đáng thương xót! Nên Bàng Uẩn nói: "Ngươi chớ sợ lạc vào không. Lạc vào không cũng chẳng phải xấu". Lại nói:"Nguyện không những gì mình đã có, chớ nhận những gì mình đã không". Nếu thấu rõ được lời này thì vô biên ác nghiệp vô minh ngay đó tan rã. Cả đại tạng giáo điển do Phật thuyết cũng chú giải câu này không được.
        
Hành giả nếu đủ lòng tin quyết định biết được có pháp đại giải thoát như thế, chỉ ở chỗ biết được đó "bật công tắc cho sáng" thì một lời của Bàng Uẩn với cả đại tạng của Phật thuyết chẳng hai chẳng khác, chẳng trước chẳng sau, chẳng xưa chẳng nay, chẳng thiếu chẳng dư, cũng chẳng thấy có tất cả pháp, cũng chẳng thấy có tất cả tâm, mười phương thế giới mênh mông trống rỗng. Cũng chớ cho là không, nếu cho là không thì có kẻ thuyết không, có kẻ nghe thuyết không, có tất cả pháp để nghe, có tất cả tâm để chứng, đã có nghe có chứng thì trong có tâm năng chứng, ngoài có pháp sở chứng, nếu bệnh này chẳng trừ, giáo môn gọi là chấp "có ta thuyết pháp". Cũng gọi là phỉ báng Phật-Pháp-Tăng. Như kinh nói: "Nếu chấp pháp tướng tức dính mắc ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả. Nếu chấp phi pháp tướng cũng dính mắc ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả". Ở trên nói "trong có tâm năng chứng, ngoài có pháp sở chứng" tức là đạo lý này vậy. 
         
Có một Phật tử tên Trần Thuần biết thân là vọng, biết pháp là huyễn, ở nơi mộng huyễn khán công án "Con chó không Phật tánh", bỗng khi rửa mặt "đụng nhằm lỗ mũi" (tỉnh ngộ) đã viết đến trình kiến giải về thiền như: "Cọp mới sanh ba ngày, sức mạnh đã đủ muốt con trâu". Chỗ trình kiến giải của ông ấy tuy còn hơi dính mắc nhưng cơ bản đã chánh, dù đại pháp chưa rõ, cũng chỉ là cái bệnh của người mới nhập đạo mà thôi. Nếu được biết việc này rồi gạt qua một bên, lại đem diệu môn của chư Phật chư Tổ nhất thời cắt dứt, hướng về phía bên Oai Âm Vương để làm công phu, mới có thể ở nơi pháp được tự tại vậy. 
           
Phật nói: "Nếu chỉ tán thán Phật thừa thì chúng sanh lặn hụp nơi biển khổ" Đã tin biết việc như thế, nên dùng sở chứng của mình để khuyếch sung thêm rồi mới chẳng bị pháp trói buộc, chẳng cầu pháp giải thoát, như thế cũng được, chẳng như thế cũng được, như thế chẳng như thế đều được. Phàm có ngữ cú, phàm có thọ dụng đều như "tráng sĩ xuất chiêu" chẳng nhờ tha lực, như tên đã lìa cung không thể trở về ấy chẳng phải cố tình mà vì pháp vốn như thế. Được đến chỗ này rồi mới có thể nói những việc vô thiện, vô ác, vô Phật, vô chúng sanh. Nếu đại pháp chưa rõ mà nói những lời như thế, e sợ đọa vào chỗ ngài Vĩnh Gia nói: 
                   
Trống rỗng không, xóa nhân quả, 
                   Mênh mênh mông mông chiêu tai họa.
       
 
Việc này nên biết.  Hễ được gốc chớ lo ngọn, huân tập lâu ngày thuần thục khỏi lo công phu chẳng thành khối. Gắng tham đi!

  (17)

 KHAI THỊ TRỊNH THÀNH TRUNG

          Hiện nay người chưa rõ tâm địa thì phải nghi rằng: "Thế giới từ đâu sanh khởi? Sau này lại hướng chỗ nào mà tiêu diệt? Lại thế giới có trước hay là con người có trước?" Nếu nói thế giới có trước thì Cổ Đức chẳng nên nói "Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức". Nếu nói con người có trước, vậy thế giới có trước, vậy thế giới chưa có, con người cư trú ở chỗ nào? Như thế, nói thế giới có trước cũng không phải, nói con người có trước cũng không phải. Nếu đại pháp được rõ thì chẳng cần suy lường mà tự nhiên rõ ràng. 

 (18)

THƯ ĐÁP VƯƠNG ĐẠI THỤ

        Chẳng biết sau khi từ biệt nhau hàng ngày ông thực hiện công phu như thế nào? Nếu như đã từng ở trên lý đánh được mùi vị, trong kinh giáo được mùi vị, trên lời nói Tổ Sư được mùi vị, chỗ mắt thấy tai nghe được mùi vị, chỗ đi đứng nằm ngồi được mùi vị, chỗ tâm nghĩ, ý tưởng được mùi vị thì tất cả mùi vị đó đều chướng ngại sự tham thiền. Nếu muốn thôi nghĩ triệt để thì hãy chớ màng đến những chỗ mùi vị đã được trước kia, lại hướng vào chỗ không thể mò bắt được, chỗ không có mùi vị, xem đó là cái gì? Nếu xem xét chẳng được, mò bắt chẳng được, càng thấy không có cán để nắm, ý thức, nghĩa lý đều chẳng thông, như gỗ đất, ngói đá..., khi ấy chớ nên sợ lọt vào không. Đây là chỗ buông thân xả mạng của hành giả. Lưu ý! Lưu ý! 

(19)

 THƯ ĐÁP LÝ TỰ BIỂU

        Ông muốn Diệu Hỷ này viết thư khai thị cho ông chỗ cốt yếu thì ngay cái niệm cầu khai thị chỗ cốt yếu ấy đã là đút đầu vào chỗ trói buộc rồi. Chẳng nên trên đầu lại mọc thêm đầu, tuy nhiên có người hỏi thì chẳng thể không đáp. Xin ông hãy đem hết các thứ đã đắc được ngày trước như tự xem kinh giáo, thoại đầu, hoặc nhờ người dạy bảo khai thị, mà được mùi vị hoan hỷ, đều nhất thời buông hết, y như trước vẫn là trăm điều chẳng biết trăm điều chẳng hội, giống như đứa bé ba tuổi có thức tánh mà chưa biết dùng. Lại hướng vào chỗ trước kia chưa khởi một niệm cầu khai thị cốt yếu đó mà khán. Khán đi khán lại, cảm thấy càng không mùi vị, trong tâm càng không yên ổn, lúc ấy càng phải tiến lên. Chỗ này chính là "chỗ cắt đứt đỉnh đầu" của ngàn Thánh (sắp ngộ). Thường thường người học đạo phần đông đến chỗ trước khi chưa khởi một niệm cầu khai thị cốt yếu đó mà khán. Khán đi khán lại, hốt nhiên như nằm mơ thức dậy, việc này không sai.

  (20)

 THƯ ĐÁP TRƯƠNG DƯƠNG THÚC.

           Trong mọi hành vi của lão cư sĩ đều đã thầm hợp với đạo, như chưa thể đến được chỗ bùng vỡ cuối cùng. Nếu hàng ngày ứng duyên chẳng mất công phu, dù chưa được "ồ" lên một tiếng (kiến tánh) thì lúc lâm chung Diêm Vương còn phải chắp tay đầu hàng huống là một niệm tương ưng ư! 
           Diệu Hỷ tuy chưa đích thân gặp mặt, nhưng biết ông làm việc lớn nhỏ tùy nghi, không thái quá, không bất cập, như thế tức là chỗ hợp với đạo. Đến đây chẳng cần cho là trần lao, chẳng cần cho là Phật pháp. Phật pháp, trần lao đều là việc bên ngoài, cũng chớ nên cho là việc bên ngoài. Chỉ cần hồi quang phản chiếu xem những cái suy nghĩ kể trên từ đâu mà có? Lúc làm việc có hình thái gì? Khi làm việc đã xong, thỏa mãn ý mình chẳng có thiếu sót, đang lúc ấy là nhờ ân lực của ai? Thực hiện công phu như thế như người học bắn lâu ngày chầy tháng tự nhiên bắn trúng đích vậy.
           Chúng sanh điên đảo mê mình mà theo vật, tham đắm một chỗ hương vị của dục lạc mà cam tâm chịu vô lượng khổ. Mỗi ngày lúc chưa mở mắt ra, lúc chưa bước xuống giường, lúc nửa thức nửa ngủ, tâm thức đã lăng xăng theo vọng tưởng trôi nổi rồi. Làm thiện tạo ác, tuy chưa phát lộ, nhưng lúc chưa bước xuống giường, thiên đường địa ngục ở trong tâm đã nhất thời thành tựu rồi, đâu cần đợi đến lúc phát ra. 
Phật nói: "Tất cả các căn đều do tự tâm hiện ra. Thế giới, thân, tâm đều từ tướng vọng tưởng biến hiện như suối chảy, như giống mầm, như đèn đuốc, như gió thổi, như mây bay, biến đổi từng sát na, loạn động như khỉ vượn, ham hôi thối như ruồi, nhặng chẳng nhàm chán như gió thổi lửa. Tập khí hư ngụy từ vô thủy như cái bánh xe quạt nước v.v..." Nếu hiểu thấu được bèn gọi là cái trí vô ngã vô nhân. Phải biết thiên đường địa ngục chẳng ở nơi khác, chỉ ở trong tâm người hành giả lúc nửa ngủ nửa thức, lúc chưa bước xuống giường, chứ không phải từ bên ngoài đến. Khi phát hay chưa phát, khi giác hay chưa giác đều cần phải tham cứu. Lúc tham cứu cũng chớ nên cố dùng sức cố dùng sức ắt phí sức vậy. Tam Tổ nói: "Ngưng động để trở về tịnh, cái ngưng ấy lại càng thêm động". Cho nên hàng ngày trong trần lao, khi vừa biết dần dần ít phí sức tức là chỗ đắc lực của hành giả, chỗ thành Phật làm Tổ của hành giả, chỗ biến địa ngục thành thiên đường của hành giả, chỗ ngồi yên ổn của hành giả, chỗ ra khỏi sanh tử của hành giả, chỗ giúp Vua trị nước của hành giả, chỗ bệnh nặng được lành của hành giả, chỗ để phước đức cho con cháu của hành giả. Đến chỗ này rồi nói Phật, nói Tổ, nói tâm, nói tánh, nói huyền, nói diệu, nói lý, nói sự, nói tốt, nói xấu, tất cả việc tương đối đều là việc bên ngoài. Những chuyện như thế còn thuộc bên ngoài, huống là làm những việc mà bậc Thánh xưa thường quở sao? Làm việc tốt còn không cho là tốt, há lại cho làm việc không tốt ư? Nếu tin nổi lời này thì lời ngài Vĩnh Gia (665-713) nói: 
                   
Đi cũng thiền, ngồi cũng thiền,
                    Nói nín, động tịnh tự an nhiên.
                    Chẳng phải là lời nói dối vậy. 
         
 
Hãy y theo đây thực hành chẳng bao giờ thay đổi thì dù chưa chứng ngộ, chưa thấy được bản lai diện mục của chính mình, nhưng chỗ lạ (nghi tình) đã thành quen, chỗ quen (tập khí) đã thành lạ rồi. Hãy ghi nhớ lấy!  

 (21)

THƯ ĐÁP LÝ BỈNH (tự Hán Lão)

       PHỤ THƯ HỎI -I
       - 
Bỉnh gần đây được vào thất thân cận, nhờ Ngài khích lệ và khai phá ám muội cho, bỗng có tỉnh ngộ.  Con tự xét căn cơ thấp kém, một đời học hỏi hiểu biết đều lọt vào tình thức (kiến chấp), buông cái nầy bắt cái kia như mở dây xích này lại buộc dây xích khác. Ngày nay nhờ Ngài bỗng được mở trói, vui mừng biết bao! Nếu chẳng phải Đại Tông Sư rủ lòng từ bi thì đâu được như thế.  Từ khi được mở trói thì mặc áo ăn cơm, dắt con bồng cháu mỗi mỗi vẫn y như những tình cảm trói ngại đã quen và cũng chẳng cho là kỳ lạ. Ngoài ra, những tập khí xưa, nghiệp chướng cũ tự nhẹ bớt dần dần.  Lời dặn của Ngài con chẳng dám quên. Song nghĩ lại con mới được vào cửa đại pháp chưa thấu, ứng cơ tiếp vật gặp việc chưa thể vô ngại, nên con rất mong được Ngài dạy bảo thêm, khiến cho tiến tới để khỏi làm hổ thẹn giáo pháp của Ngài. 
       
THƯ ĐÁP LÝ BỈNH -I
       - 
Đọc thư ông viết: "Từ khi mở trói mặc áo ăn cơm, dắt con bồng cháu mỗi mỗi y như cũ nhưng tình cảm trói ngại đã quên cũng chẳng cho là kỳ lạ. Ngoài ra những tập khí xưa nghiệp chướng cũ cũng tự nhẹ bớt dần dần". Biết được ông như vậy, đọc đi đọc lại tôi cảm thấy rất hoan hỉ. Đây là học Phật có hiệu nghiệm vậy.  Nếu chẳng phải bậc đại trượng phu ngộ một cái liền siêu việt số lượng, thì chẳng thể biết nhà mình quả thật có cái diệu dụng chẳng thể truyền. Nếu không được như thế thì hai chữ NGHI, NGỘ trong Pháp môn, đến tận cùng vị lai cũng chẳng thể tiêu hoại. Dẫu cho miệng tôi bằng hư không, cây cỏ ngói đá đều phát ra ánh sáng trợ giúp tôi thuyết pháp cũng chẳng làm gì được, mới tin rằng việc nhân duyên này chẳng thể truyền, chẳng thể học, cần phải tự chứng tự ngộ mới đến triệt để. Ông nay nhất ngộ đã quên sở đắc thì đâu còn gì để nói nữa. 
       
Phật nói:
                   
Chẳng chấp ngôn thuyết của chúng sanh,
                    Tất cả hữu vi đều hư vọng.
                    Dù chẳng y theo lời ngôn ngữ,
                    Nhưng cũng chẳng chấp vô ngôn thuyết.
      
 
Trong thư ông nói đã quên tình cảm trói ngại cũng chẳng cho là kỳ lạ, ấy là âm thầm phù hợp với lời Phật. Thuyết nầy gọi là Phật thuyết. Lìa thuyết này gọi là tà ma thuyết. 
        
Sơn Tăng trước kia có đại nguyện: "Thà đem thân này thay tất cả chúng sanh chịu khổ địa ngục, chứ không bao giờ dùng miệng này lấy Phật pháp vị nhân tình mà làm mù mắt tất cả chúng sanh". 
      
Ông đã đến nơi điền địa này, tự biết việc này chẳng từ người khác mà được, vậy cứ y như trước đâu cần hỏi nữa. Đại pháp rõ hay chưa rõ? Ứng cơ ngại hay chẳng ngại? Nếu còn nghĩ vậy thì chẳng phải như trước rồi.
      
Trước kia thấy ông hoan hỉ quá nên chẳng dám nói trắng ra, e ngại kẹt trong lời nói. Nay sự hoan hỉ đã qua mới dám chỉ ra việc này. Ông được đến mức này chẳng phải là dễ nhưng vẫn cần phải sanh tâm hổ thẹn mới được. 
       
Thường thường kẻ lợi căn thượng trí khi chứng đắc cảm thấy chẳng phí sức liền sanh tâm cho là dễ quá, chẳng chịu tu hành. Phần nhiều bị cảnh giới trước mắt lôi kéo đi, làm chủ chẳng được, lâu ngày dài tháng mê muội mà chẳng thể trở về. Đạo lực không thắng nghiệp lực thì nhất định sẽ bị bọn ma nhiếp trì. Lúc lâm chung cũng chẳng đắc lực. Hãy nhớ lấy cho.
       
Lời nói hôm trước: "Lý thì đốn ngộ, theo ngộ cùng tiêu. Sự thì tiệm trừ lần lần mới hết". Đi đứng ngồi nằm chớ nên quên mất. Ngoài ra đủ thứ lời sai biệt của cổ nhân đều chẳng thể cho là thật cũng chẳng thể cho là giả. Lâu ngày thuần thục tự nhiên âm thầm khế hợp bản tâm vậy. Chẳng cần cầu kỳ lạ thù thắng nào khác. 
       
Xưa kia hòa thượng Thủy Lạo hỏi Mã Tổ (709 - 788):
       -  Thế nào là ý của Tổ Sư từ Ấn Độ đến?  
     
Tổ nói:
       -  Lại gần đây ta nói cho nghe. 
      
Thủy Lạo vừa đến gần định lễ bái, bị Mã Tổ dùng chân đá nhào.  Thủy Lạo bất giác đứng dậy vỗ tay cười ha hả. 
     
Tổ hỏi:
       -   Người thấy đạo lý gì mà cười?  
     
Thủy Lạo đáp:
       -  Muôn ngàn pháp môn, vô lượng diệu nghĩa, hôm nay bị đá một trận thì biết được nguồn gốc sát đáy. 
       
Mã Tổ cũng không nói gì thêm.
      
Tuyết Phong (822-908) biết Cổ Sơn cơ duyên đã thuần thục. Một hôm Ngài bỗng chụp ngay ngực Cổ Sơn hỏi rằng:
        -  Cái gì vậy? 
     
Cổ Sơn ngay đó liễu ngộ. Luôn cả cái tâm liễu cũng mất luôn chỉ mỉm cười và khoát tay mà thôi. 
       
Tuyết Phong hỏi:
       -   Ông được đạo lý sao? 
     
Cổ Sơn lại khoát tay nói:
       -  Hòa thượng! Đâu còn có đạo lý nào nữa. 
     
Tuyết Phong liền thôi. 
     
Thuở xưa, Thiền Sư Đạo Minh đuổi theo Tổ Huệ Năng đến Đại Du Lãnh để đoạt y bát. Ngài Huệ Năng để y bát trên tảng đá nói:
       -  Y này là biểu tín (vật tiêu biểu để làm tin), há có thể dùng sức tranh dành ư? Ông cứ lấy đi. 

      Đạo Minh tận sức giở lên không nổi mới kinh hãi thưa:
      -  Tôi nay cầu pháp chứ chẳng vì cầu y bát, xin hành giả khai thị. 
       
Huệ Năng nói:
       -  Chẳng nghĩ thiện, chẳng nghĩ ác, ngay lúc ấy cái gì là bản lai diện mục của thượng tọa? 
     
Đạo Minh ngay đó đại ngộ, toàn thân xuất mồ hôi, rơi lệ đảnh lễ rằng:
       -  Ngoài mật ý mật ngữ kể trên, còn có ý chỉ nào nữa chăng? 
     
Huệ Năng nói:
       -  Nay vì ngươi nói ra thì chẳng phải mật ý rồi. Ngươi nếu tự phản chiếu diện mục mình thì mật ở bên ngươi. Nếu ta nói được thì chẳng phải là mật vậy.
       
Đem ba công án kể trên so với cái ngộ của ông, hay dở thế nào xin ông tự đoán xem. Đâu còn có đạo lý kỳ lạ gì khác nữa. Nếu còn có cái khác thì chẳng thể gọi là ngộ rồi. Chỉ cần biết làm Phật, chớ đừng lo Phật chẳng biết nói. Xưa nay những người đắc đạo, tự mình đã viên mãn, đều dùng cái của mình sẳn có tùy cơ tiếp vật như gương sáng trên đài, ngọc sáng trong tay, Nam đến thi hiện hình Nam, Nữ đến thì hiện hình Nữ, mà chẳng cần tác ý vậy. Nếu có tác ý ắt có pháp thật cho người rồi. Ông muốn thấu rõ đại pháp ứng cơ vô ngại, hãy cứ vẫn y như trước, chẳng cần hỏi người, lâu ngày sẽ tự gật đầu vậy. Lời tôi nói khi chia tay xin chép lại để cạnh chỗ ngồi. Ngoài ra chẳng có lời khác để thuyết. Dẫu có thuyết, đối với bổn phận của ông cũng thành lời thừa rồi. Nói lòng vòng nhiều quá, nay tạm gạt qua một bên đi. 
      
PHỤ THƯ HỎI-II
      -
Vừa được lời đáp khai thị đã thấu ý chỉ thâm sâu. Bỉnh tự thấy có ba điều hiệu nghiệm. Một là gặp việc nghịch thuận tùy duyên ứng phó, chẳng lưu lại trong lòng. Hai là tập khí lâu đời chẳng cần dứt trừ mà tự nó nhẹ dần dần. Ba là đối với công án của Cổ Đức trước kia cảm thấy mờ mịt, nay lại thấy rõ ràng, không còn ám muội nữa. 
    
Thư trước nói đại pháp chưa rõ là vì sợ rằng được ít cho là đủ nên muốn được khuyếch sung (mở rộng) thêm, chứ đâu dám cầu kiến giải thù thắng nào khác. "Tẩy trừ tập khí” hiện hành, lúc ấy chẳng phải không! Lời dạy của Ngài, con rất khâm phục.  
      
THƯ ĐÁP LÝ BỈNH -II
      -
Được thơ sau thấy có tiến thêm, chẳng biết gần đây được tùy duyên phóng khoáng, như ý tự tại chăng? Thức ngủ, nhị biên được như một chăng? Chỗ "vẫn y như cũ" có dời đổi chăng? Tâm sanh tử còn tương tục chăng? 
        
Chỉ cần tẩy sạch làm phàm tình, thực chẳng có thánh giải khác. Ông đã được ngộ, khai mở chánh nhãn, tin tức sở đắc xưa bỗng quên mất thì đắc lực hay chẳng đắc lực như người uống nước lạnh nóng tự biết vậy. Nhưng trong cuộc sống hàng ngày nên y theo lời dạy của Phật: "Một là tu tập trừ các trợ nhân; hai là chơn tu nạo sạch chánh tánh (tánh dâm dục) (1); ba là tinh tấn xoay ngược hiện nghiệp". Đây là chân phương tiện trong vô phương tiện, chân tu chứng trong vô tu chứng, chân thủ xả trong vô thủ xả của người xong việc (đã ngộ).
      
Cổ Đức nói: "Lớp da đã lột hết, chỉ còn một chân thật". Cũng như nhánh lá của cây chiên đàn róc sạch hết, chỉ còn lại cây chiên đàn chân thật. Ấy là lý cùng tột của ba việc "trừ các trợ nhân, nạo sạch chánh tánh và xoay ngược hiện nghiệp" vậy. Ông thử nghĩ xem, lời nói như thế đối với bổn phận của người đã xong việc mặc dù như cây quạt trong mùa đông, song e miền Nam khí trời lạnh nóng bất thường nên thiếu nó chẳng được. Một tiếng cười. 

GHI CHÚ:
          
 
(1) Chánh tánh (tánh dâm dục): 
        Chúng sanh đều dùng dâm dục làm chánh nhân để sanh ra sinh mạng nên gọi tánh dâm dục là chánh tánh.  

     THƯ ĐÁP LÝ BỈNH -III
      -
Lúc Phú Quí Thân ở Tam Cù có thư đến hỏi đạo, nhân đó bất đắc dĩ tôi buông lời phương tiện chẳng ít. Nhưng ông ta vẫn kẹt nơi Mặc Chiếu, chắc chắn đã bị bọn tà sư dẫn vào hang quỷ.
       
Nay tôi được thư kế tiếp, biết ông ta vẫn còn chấp tĩnh tọa cho là tốt. Ông ta cố chấp như thế làm sao tham được Tổ Sư Thiền? Lần này đáp thư, tôi không tiếc khẩu nghiệp, dài dòng thống thiết phá chấp cho ông ta, nhưng chẳng biết ông ta có chịu quay đầu lại khán câu thoại đầu hay không.
       Bậc Thánh xưa nói: “Thà có thể phá giới lớn như núi Tu Di, quyết chẳng để bị tà sư huân một tà niệm nhỏ như hạt cải vào trong tàng thức, như đổ dầu vào trong bún thì không làm sao lấy ra được”. Ấy là tình trạng của ông ta vậy.
       
Nếu ông có gặp ông ta thì hãy đọc thử thư tôi đáp cho ông ta nghe. Theo đó mà làm phương tiện cứu vớt ông ta. Trong Pháp Tứ Nhiếp của Bồ Tát, đồng sự nhiếp là mạnh nhất, ông nên khai triển pháp môn này khiến ông ta tăng cường lòng tin “Tin tự tâm”, như vậy chẳng những tiết kiệm được một nửa sức Sơn Tăng, mà cũng khiến ông ta chịu xa lìa hang ổ cũ vậy.

(22)

THƯ ĐÁP GIANG THIẾU MINH

      Đời người một trăm năm, thời gian có là bao. Ông xuất thân từ nhà nghèo hèn tiến lên quan chức, ấy là có phước nhất thế gian. Ông lại biết hổ thẹn hồi tâm hướng về đạo, học pháp xuất thế gian để thoát ly sanh tử, ấy là người khéo lựa chọn nhất trên đời. Cần phải quyết tử dụng công phu, chẳng màng đến việc khác, chẳng để cho người khác chi phối, tự làm chủ cho mình. Chỗ cuối cùng được chứng tỏ rõ ràng mới là bậc đại trượng phu đã xong việc thế gian và xuất thế gian vậy. 
       
Liên tiếp mấy ngày ông cùng với Lý Hán Lão đàm luận về đạo, lành thay, lành thay! Cho ông ta là đã dứt được tâm dong ruổi tìm cầu, đến chỗ "đường ngôn ngữ dứt, chỗ tâm hành diệt", ngay chỗ muôn ngàn sai biệt thấy được chân tay cổ nhân, chẳng bị phương tiện văn tự của cổ nhân trói buộc. Sơn Tăng thấy ông ta như thế chẳng hề bảo ông ta một chữ, vì e làm trở ngại ông ta. Đợi khi ông ta muốn nói chuyện với Sơn Tăng, lúc ấy mới cùng ông ta giải rõ việc này. Chứ chẳng phải ngưng luôn đâu. Người học đạo nếu tâm tìm cầu chẳng dứt thì dẫu có cùng họ giải rõ việc này cũng vô ích, vì họ là kẻ ngu si cuồng loạn chạy ở vòng ngoài. 
       
Cổ Đức nói: "Gần gũi người lành như đi trong sương móc, tuy chẳng ướt áo nhưng cũng được thấm nhuần". Ông thường qua lại hầu chuyện với Lý Hán Lão, tôi rất mong, rất mong! 
        
Ông chớ nên đem lời dạy của Cổ Đức ra bày đặt bậy bạ. Như Nam Nhạc nói với Mã Tổ rằng: "Ví như trâu kéo xe, nếu xe chẳng đi thì đánh xe là phải hay đánh trâu là phải?" Mã Tổ nghe xong ngộ ngay. Về mấy lời này, Tông Sư các nơi chẳng hội được, lại đoán mò bậy bạ, dù thuyết pháp như sấm sét cũng chỉ là hiểu theo lời nói. Ấy là phỉ báng Tổ Sư. Xem thư ông gửi Châu Phong, ông tự ý đặt điều chú giải cho Như Lai Thiền là Tổ Sư Thiền, Sơn Tăng đọc qua bất giác bật cười. 
        
Bài tụng gửi đến kỳ này xem kỹ thấy khá hơn hai bài tụng trước, nhưng từ nay hãy ngưng hẳn, nếu cứ tụng đi tụng lại mãi thì đến chừng nào mới xong. Như Lý Hán Lão, ông ta há chẳng biết làm kệ tụng sao, tại sao ông ta không làm một chữ? Vì là người biết pháp nên sợ phạm pháp mà thôi! Ông ta ngẫu nhiên lộ ra một đầu sợi lông thì tự nhiên gãi nhằm chỗ ngứa của Sơn Tăng. Như câu: "gặp người khắp nơi, gạt trước mặt" trong bài tụng Xuất Sơn Tướng, đáng làm thuốc điểm nhãn cho tòng lâm. Một ngày nào đó ông sẽ tự thấy, chẳng cần Sơn Tăng nói trắng ra.     

        Gần đây, tôi thấy ông bỗng nhiên thay đổi và rất nổ lực về việc này, nên tôi viết thư này hơi dài dòng.

LƯỢC GIẢI: 
"Gặp người khắp nơi, gạt trước mặt" 
Cổ Đức nói: "Người học chẳng thấy được ý của chư Tổ thì phải bị chư Tổ lừa gạt. Cũng như người không qua được sông hồ thì bị sông hồ chướng ngại vậy". 

Gần đây, tôi thấy ông bỗng nhiên thay đổi và rất nỗ lực về việc này, nên tôi viết thơ này hơi dài dòng.