PHỒ THUYẾT

PHỒ THUYẾT

       Lần dầu tiên chánh thức ra hoằng pháp, Sư thăng tòa đốt hương rằng: "Nén hương này thấy được thì con mắt khô, ngửi được thì bộ óc nứt. Gặp quí thì giá bằng cõi Ta bà, gặp tiện thì rẻ hơn đồng xu. Hôm nay trước mặt Trời Người đốt trong lư, dùng để thù đáp pháp nhủ của ân Sư (là Viên Ngộ Đại Hòa Thượng)”.
       Nói xong an tọa. 
       
Đệ tử thượng thủ bạch dùi rằng: Chúng long tượng trong pháp hội nên quán Đệ Nhứt Nghĩa Đế... 
       
Kế đó trải qua nhiều lời giải đáp cho các tăng tấp nập ra hỏi, nhưng vẫn còn nhiều tăng giành ra hỏi nữa, Sư cho tạm ngưng rồi nói:
       - Giả sử cả đại địa đều nghiền thành vi trần, mỗi vi trần đều có một miệng, mỗi miệng đều đủ tướng lưỡi rộng dài, mỗi lưỡi đều đủ tướng âm thamh sai biệt, mỗi tướng âm thanh sai biệt đều có vô lượng lời nói sai biệt, mỗi lời nói đều có vô lượng lời nói sai biệt, mỗi lời nói đều có vô lượng diệu nghĩa sai biệt. Có nạp tăng nhiều như số bụi trần kể trên, mỗi tăng đều có miệng như thế, có lưỡi như thế, có âm thanh như thế, có diệu nghĩa như thế, cùng một lượt đề ra muôn ngàn vấn nạn, mỗi ván nạn đều khác biệt, chỉ cần sơn tăng tằng hắng một tiếng thì nhất thời giải đáp xong. Ngay lúc ấy còn làm thêm vô lượng vô biên quảng đại Phật sự, mỗi mỗi Phật sự đều cùng khắp pháp giới, gọi là một lỗ chân lông hiện vô lượng thần biến, tất cả Phật đồng thời thuyết kinh, nơi vô lượng kiếp cũng chẳng tìm được bờ bến, dù được như thế đi, cho là môn đình náo nhiệt thì được, Nếu dùng chánh nhãn mà xem thì chính là nghiệp thức mang mang, chẳng có nguồn gốc để căn cứ. Theo cửa thiền của Tổ Sư, một chút cũng dùng không được, huống là bày đặt văn chương để hiển lộ biện tài, chẳng những chôn vùi truyền thống thiền tông từ xưa nay, mà còn làm cho nạp tăng cười bể lỗ mũi. Cho nên nói, một mảy may hệ niệm thì rơi vào tam ác đạo, tình thức bỗng sanh thì muôn kiếp bị trói, danh hiệu thánh phám đều là tiếng hư vọng. Hình tướng xấu đẹp đều là ảo sắc. Ngươi muốn tìm cầu lại thêm lao nhọc. Nếu là nhàm chán lại thành họa lớn. Thử xem cổ đức dạy bảo như thế. Như binh khí của nhà nước bất đắc dĩ mới đem dùng, trên bổn phận của nạp tăng cũng không có việc này. Sơn tăng hôm nay nói ra như thế cũng như không mộng mà thuyết mộng, trên da lành mà tự cắt làm sẹo. Kiểm điểm ra thực là đáng ăn gậy. Trong chúng có ai đáng mặt cầm gậy hạ độc thủ chăng? Nếu có thì xứng đáng báo được các ơn chẳng thể báo, cùng nhau thu nhiếp sự giáo hóa của Vô vi. Nếu không thì lệnh này đảo ngược rồi vậy.
      
Sư bỗng cầm gậy lên rằng: 
       - Dùng kiếm Mạc Da (bảo kiếm) hành chánh lệnh
       Hoàn vũ thái binh chém si ngoan (si mê và ngoan cố).
Rồi Sư hét một tiếng.
       Tiếp đó, Sư kể chuyện: Có quan Thường Thị họ Vương thăm ngài Lâm Tế, hai người cùng nhau đến tăng đường. 
      
Thường Thị hỏi: Cả nhà tăng này có xem Kinh chẳng?  Lâm Tế đáp: Chẳng xem Kinh.  Thường Thị hỏi: Có học thiền chăng?  Lâm Tế đáp: Chẳng học thiền.  Thường Thị hỏi: Kinh chẳng xem, thiền chẳng học. Rốt cuộc làm việc gì?  Lâm Tế đáp: Trọn bảo họ làm Phật làm Tổ.  Thường Thị hỏi: Mạt vàng dù quí, vào mắt thành bệnh, lại là thế nào?  Lâm Tế nói: Ta nói ông chính là người tục.
       
Xong, Sư Đại Huệ nói: Lão Lâm Tế cầm một cây bảo kiếm, sức mạnh khắp vũ trụ, hoành hành khắp thiên hạ. Vô cớ bị ông quan này đánh nhẹ một cái liền thấy băng tan ngói bể. Xin nói thử ông quan này có gì hay?
       
Nghe bài tụng đây: 

              Thế, xuất thế gian việc hi hữu. 
              Phát minh cần nhờ người đã ngộ.
              Chỉ dùng bàn tay vá áo rách,
              Để chuyển Như Lai chánh pháp luân.

      Sư thăng tòa nói:

              Đại đạo chỉ ở trước mắt,   
 
             Lại nơi trước mắt khó 
              Muốn biết chân thể đại 
              Chẳng lìa ngôn ngữ thanh sắc

         Sư giơ gậy rằng: Cái này là sắc. 
         Tiếp theo, Sư gõ 
thiền sàng rằng:
         - Cái này là thanh. Sơn tăng hôm nay miệng nhóp nhép là ngôn ngữ. Vậy cái nào là chân thể của đại đạo? 
Hét lên một tiếng rồi nói:  

             Tức thấy nghe này chẳng thấy nghe.
             Chẳng còn thanh sắc để trình ông.
             Trong đó nếu thấu vốn vô sự.
             Thể dụng không ngại phân, chẳng phân.

          Nếu mà phân thì "mưa xuống ướt trên đất, mưa tạnh mặt trời ra. Tháng thiếu hai mươi chín, tháng đủ có ba mươi". Nếu mà chẳng phân thì "Kim Cang chà lưng ông Địa một cái liền lòi xương”. Cổ đức nói: “Một câu cuối cùng mới đến lao quan. Đóng chặt quan ải chẳng thông phàm thánh”. Thế nào là một câu cuối cùng?
         
Sư tự nói: Chớ nên nói mớ.
      Đoạn Sư g
õ thiền sàng một cái, rồi xuống tòa.

         Sư thị chúng rằng: Pháp chẳng thể kiến văn giác tri, nếu hành theo kiến văn giác tri ấy là kiến văn giác tri, chẳng phải cầu pháp. Đã lìa kiến văn giác tri rồi thì lấy cái gì gọi là pháp. Đến đây như người uống nước lạnh nóng tự biết, chỉ riêng kẻ thân chứng thân ngộ mới thấy được. Nếu người đã thật chứng ngộ thì khi cầm lên một sợi tóc ắt cả đại địa trong nhất thời đều được rõ ràng. Nhưng đời nay, chẳng những các sĩ phu thông minh lanh lợi mà ngay cả những kẻ thiền giả mỗi mỗi đều có hai thứ bệnh, nếu chẳng phải hôn trầm thì là toán loạn. Hôn trầm thì đọa vào hang quỷ dưới núi đen, tán loạn thì tâm thức lăng xăng, một niệm tiếp một niệm, tiền niệm chưa dứt hậu niệm lại tương tục.  Chẳng biết dưới gót chân của mọi người đều có "một đại sự nhân duyên" như trời che khắp, như đất hứng khắp, chẳng hôn trầm chẳng tán loạn. Khi chưa có thế giới việc lớn này đã có, khi thế giới hoại việc lớn này chẳng hoại.  Thường thường các sĩ phu phần nhiều tâm hay tán loạn, mà hiện nay lại có một bọn tà sư, thấy các sĩ phu bị trần lao chướng ngại, tâm chẳng yên ổn, liền dạy họ thiền Mặc chiếu, dạy họ như tro lạnh cây khô, nói làm như thế sẽ được ngưng nghỉ. Thực ra có ngưng nghỉ được chăng? Chẳng biết cái tâm như con khỉ này nếu không chết thì làm sao ngưng nghỉ được.  Pháp Mặc Chiếu tà thiền này trước kia thịnh hành nơi tỉnh Phước Kiến. Khi ta mới đến Phước Kiến liền bài xích họ, vì họ làm đoạn dứt huệ mạng Phật, dù ngàn Phật ra đời cũng không cho sám hối. Trong đó có một nho sĩ tên Trịnh Thượng Minh, người rất thông minh, Phật giáo, Nho giáo, tất cả đều thông suốt. Một ngày kia, ông ta đem một nén hương đến phòng ta, phẫn nộ lớn tiếng chất vấn (việc này đã kể trong cuốn Đại Huệ Thiền Sư giải đáp về vấn đề Mặc Chiếu Thiền). 
       
Huỳnh Đức Dụng hai anh em đến chùa thiết trai cúng dường thỉnh sơn tăng phổ thuyết, xiển dương tông chỉ để đền ơn Phật. Nhưng gọi cái gì làm tông chỉ? Lại tông chỉ làm sao xiển dương? Thời đại gần đây, Phật pháp suy yếu, tà sư thuyết pháp như hằng sa, mỗi mỗi tự lập môn phái, bày đặt các việc kỳ lạ, xoay vòng nén bóp, làm mê hoặc kẻ hậu học, bọn này rất nhiều. Kẻ tham thiền đã không đủ pháp nhãn để chọn lựa mà người làm thầy lại đạo nhãn không sáng cho nên mới xảy ra việc như thế.
       
Trước kia ta với Nguyên Chiêu không quen biết, thấy bài tựa của ông trong phẩm Phạm Hạnh Kinh Hoa Nghiêm, tự nói ở nơi Phẩm Phạm Hạnh có chỗ ngộ nhập. Lúc ấy ta biết ông ấy chỉ ngộ được Vô-Phạm-Hạnh mà thôi, lại bị tà sư ấn chứng cho là triệt ngộ, nên nghĩ nếu gặp sau này ta sẽ tận sức cứu ông ấy. Đến khi gặp ở Trường-Lạc, ta liền nói với ông ấy rằng: Cái của ông ngộ chính là cái mà Ngài Vĩnh Gia nói “Đoạn-Diệt-Không, phế nhân quả, mênh mông mịt mù, chiêu tai hoạ mà thôi”. Rồi ta lấy phẩm Phạm Hạnh để chứng minh chỗ sai của ông ấy rằng, Kinh nói “Nơi thân vô sở thủ, nơi tu vô sở trước, nơi pháp vô sở trụ, quá khứ đã diệt, vị lai chưa đến, hiện tại không dừng, chẳng kẻ tác nghiệp, chẳng kẻ thọ báo, đời nay chẳng lay động, kiếp kia chẳng biến đổi”. Vậy trong đó lấy pháp gì gọi là phạm hạnh, phạm hạnh từ đâu mà đến, thuộc về của ai, bản thể là người nào, do ai làm ra, ấy là có hay là không, là sắc hay phi sắc, là thọ tưởng hành thức hay phi thọ tưởng hành thức? Quán xét pháp phạm hạnh bất khả đắc như thế mà lại suy diễn cho rằng "vô phạm hạnh là chân phạm hạnh", ấy là phỉ báng Đại Bát Nhã, vào địa ngục như tên bắn. 
        
Ta còn nói thêm với ông ấy rằng: Hiện nay bọn tà sư mỗi mỗi đều tự nói đắc Vô thượng Bồ Đề. Mỗi mỗi đều bày đặt dị đoan để lừa gạt kẻ kia người nọ, đem nhân duyên nhập đạo của Cổ Đức vọng tự bày đặt, hoặc cho im lặng vô ngôn vô thuyết là việc trước không kiếp, hoặc dạy người ngưng nghỉ đi, ngưng nghỉ đồng như gỗ đá; lại còn sợ người ta nói "ngồi trong hang quỷ dưới núi đen" nên dùng lời của Tổ Sư dẫn chứng rằng “Vì liễu liễu thường tri nên ngôn ngữ chẳng thể đến". Vậy khi ngưng nghỉ đến như gỗ đá nếu chẳng phải tối mà vô tri thì lại tinh tinh lịch lịch, đi đứng ngồi nằm luôn luôn tự trói. Dạy người tu hành như thế, nói lâu ngày sẽ tự ngộ bản tâm; hoặc cho lìa bỏ tình thức trần lao, lấy chẳng lập hang ổ làm cửa nẻo; phàm công án của người xưa vừa đề ra thì hiểu liền hoặc là thầy hỏi "chẳng phải Tâm, chẳng phải Phật, chẳng phải Vật, ông làm sao hiểu?" liền đáp “Hoà thượng hãy tỉnh tỉnh đi!" hoặc nói "Hoà thượng đi đâu đấy" hoặc nói "không thể mũi tên lại thêm nhọn" hoặc nói "lừa gạt bao nhiêu người" hoặc đề lại một lần "chẳng phải Tâm, chẳng phải Phật, chẳng phải Vật”. Phàm hỏi về nhân duyên của người xưa đều hướng ngay chỗ đề khởi mà thừa nhận, hướng ngay chỗ lửa nhoáng điện chớp mà hiểu, Thầy vừa đề xong trò cũng hiểu xong. Phàm có sở hỏi đều chẳng thọ nhận gọi là giải thoát tự tại, được đại an lạc. Hoặc cho "tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức" làm chủ, lấy lời có chỗ tương tự của người xưa để chứng minh, cho mắt thấy tai nghe là chỗ đắc lực. Phàm chỗ thông vào đều cho thấy vật mà ngộ, nghe tiếng mà ngộ. Phàm có thi thiết đều bắt chước chỗ tương tự của người xưa. 
        
Phàm gặp người hỏi, chỉ dính mắc chỗ câu hỏi mà đáp gọi là "ngay đó hợp nghĩa vô sanh”, gọi là "miên mật chẳng đọa tình trần”. Ví như tăng hỏi Cổ đức "Thế nào được ra khỏi tam giới?" thì nói “Đem tam giới lại đây để ta ra cho", hoặc nói: "gọi là cái gì là tam giới”, hoặc nói “Hiểu được chỗ hỏi của tăng này thì ra tam giới cũng chẳng khó”. Hoặc như tăng hỏi Pháp Nhãn "Thế nào là một giọt nước của Tào Khê" thì đáp rằng "Là một giọt nước của Tào Khê". Còn như Huệ Siêu hỏi Hòa thượng "Thế nào là Phật?" thì đáp rằng "Ông là Huệ Siêu". Dẫn chứng những lời như thế cho là toàn đúng toàn hay chẳng đúng. 
        
Còn luận về công án Ngài Dược Sơn lúc đêm thị chúng rằng "Ta có một lời nói đợi khi trâu đực đẻ con thì nói với ngươi". Rồi có tăng ra thưa rằng "Trâu đực đã sanh con rồi, chỉ là Hòa thượng không nói". Dược Sơn rằng "Đốt đèn lên". Tăng ấy liền trở về trong chúng. Sau này ngài Pháp Đăng ra nói rằng "Ấy là sanh trâu đực hay trâu cái". Lại tự đáp rằng "Sanh đôi". 
        
Khi bọn họ thương lượng, cũng cho là hiểu ngay lời đó hợp nghĩa vô sanh, giải thích bậy rằng Ngài Dược Sơn nói "Ta có một lời nói đợi khi trâu đực sanh con", ấy tức là đã nói ra rồi, cho nên tăng này lãnh hội được liền ra nói "Trâu đực đã sanh con rồi chỉ là Hòa thượng không nói", cho là rất miên mật, chẳng lộ kiếm bén. Cho đến Ngài Pháp Đăng rằng "Ấy là sanh trâu đực hay trâu cái?” Tự đáp rằng "Sanh đôi", lời ấy chẳng có chút thiếu dư, Phật nhãn cũng nhìn không thấy. Đem lời này cho là dùng đúng phá đúng, chẳng lộ kiếm bén, chẳng cần phí sức. 
        
Lại nữa, như "Cổ Đức chỉ một cục đá hỏi người học rằng "Cục đá này ở trong tâm hay ở ngoài tâm?" Đáp rằng "Ở trong tâm". Cổ Đức nói “Sao ông chấp trước quá, để cục đá ở trong tâm?" Bọn họ thương lượng rằng "Chẳng nên dùng trong với ngoài để đáp. Nếu dùng trong, ngoài để đáp thì pháp có chút thừa rồi. Nên đáp “Tốt lắm một cục đá", hoặc đáp "Lãnh thọ lời hỏi này", hoặc đáp "Gọi cái gì làm một cục đá", hoặc đáp "Dạ, dạ", hoặc đáp "Ở trước pháp đường", hoặc đáp "Tạ Sư khai thị" hoặc đáp “Hoà thượng còn biết mắc cỡ chăng?" v.v… Phàm đáp những lời như thế chỉ dùng một câu bao gồm tất cả, gọi là miên mật, gọi là chẳng sai chạy, bọn họ rất nhiều kiến giải như thế, hoặc cho là tất cả ngôn ngữ đều không dính dáng. Phàm khi vừa nghe đề ra thì hai mắt mở lớn, giống như con nít bệnh tâm thần thấy ma thấy quỷ vậy. Chỉ ở nơi nhướng mày ngó nhìn mà lãnh hội. Lại lấy lời của người xưa dẫn chứng bậy rằng “Chẳng ngó nhìn tức sai lầm. Muốn suy lường thì kiếp nào mới được ngộ. Hễ khi nghe đề ra thì cần phải dùng mắt ngó nhìn”. Chỉ lấy lời của người xưa nhắc lại một lần, gọi là chẳng lọt vào lời nói, cũng như những lời "Cây bách trước sân”, rữa chén chẳng cần phí sức. So với ánh sáng của lửa nhoáng điện chớp chỉ thêm được một cái nhướng mày nháy mắt mà thôi. Bọn này thật là phỉ báng người xưa biết bao!”

  *

           Sư thị chúng rằng: Người xưa nói “Đại trí không phân biệt, đại dụng không lý sự, như mặt trăng hiện nơi ngàn sông, như làn sóng tùy theo dòng nước”. Nhưng cái nào là cái không phân biệt của đại trí, cái nào là cái không lý sự của đại dụng? Có phải hỏi một đáp mười, biện tài như suối chảy là đại trí chăng? Có phải thô ngôn với tế ngữ đều quy đệ nhất nghĩa" hay là "lật ngã thiền sàng, hét tan đại chúng”, hoặc là "quay đầu bỏ đi, do dự liền đánh" v.v... Là đại trí chăng? Nếu mà kiến giải như thế chớ nói làm một ông tăng, muốn làm nô lệ dưới cửa ông tăng cũng còn chưa thể được.
        
Thiện tri thức! Kẻ thực chứng thực ngộ mà đối với đại pháp còn chưa sáng tỏ, khi dạy người vẫn khó tránh khỏi đem cái chỗ tự chứng, tự ngộ của mình để dạy bảo người, làm mù mắt người, huống là kẻ chưa chứng ngộ, học lời nói của người khác, làm mù mắt người là điều chắc chắn vậy. Việc này rất là khó. Người đại căn khí đến chỗ này còn không có chỗ để đặt chân, huống là bọn ma tiểu căn vô tri, làm sao dám mở miệng khoe trương bậy bạ. Các ông thử suy nghĩ kỹ xem trong tâm mình thực đến chỗ bất nghi (triệt ngộ) chưa? Nếu thực chưa đến mà ta lại thả cửa cho qua, làm như vậy là tạo tội địa ngục. Nên biết thí chủ mười phương đem hạt gạo cọng cải cúng dường các ông là muốn các ông đạo pháp thành tựu, đồng đến Phật thừa. Nếu các ông chỉ cầu phước báu đời sau, đạo pháp không thành thì làm sao tiêu được? Các ông đã quyết tâm kế thừa cửa thiền này cần phải tâm cảnh nhất như mới có ít phần tương ưng. Chớ nên nghe ta nói vậy liền nhắm mắt, bộ dạng như kẻ chết, cho là tâm cảnh nhất như, bày đặc như vậy làm sao được! Các ông muốn chân thật đến chỗ tâm cảnh nhất như, đem thức thứ tám một dao cắt dứt; chỉ giữ nghi tình, ngoài ra đều chẳng màng đến.
       
Hòa thượng Nham Đầu có nói “Vừa có sở trọng liền thành hang ổ”. Các ngươi suốt đời tham cứu việc này, kẻ vô sở đắc thì khỏi nói rồi, nhưng trong đó nhiều người cứ ngồi trong hang ổ, suốt đời không ló đầu ra cũng không biết quấy. Có kẻ thì ở trên lời nói của cổ đức được chút mùi vị, đem ngữ cú kỳ diệu làm hang ổ; có kẻ thì trong kinh giáo nghĩa cú được mùi vị, lấy kinh giáo làm hang ổ; Có kẻ thì trên công án cổ nhân được mùi vị, đem những lời nói vấn đáp thưởng phạt của cổ nhân làm hang ổ; có kẻ thì trên tâm tánh mình được mùi vị, lấy "tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức" làm hang ổ; có kẻ thì ở chỗ nín lặng vô ngôn vô thuyết được mùi vị, đem bế tai nhắm mắt ngồi trong hang quỷ chẳng lay động làm hang ổ; có kẻ thì trong việc ứng dụng hàng ngày được mùi vị, đem nhướng mày nháy mắt nhắc nhở tỉnh giác làm hang ổ; có kẻ nói pháp chẳng ở trên lời nói, chẳng ở trên tình thức, chẳng ở chỗ cử chỉ động tác, nhận lầm nghiệp thức là Phật tánh, ở đây được mùi vị, đem "đánh lửa đá, ánh sáng điện chớp" làm hang ổ. Những cái hang ổ nói trên đều là do được mùi vị mà có sở trọng. Nếu người không có khí phách đại trượng phu, cứ theo chỗ sở trọng của mình cho là kỳ lạ, huyền diệu, yên ổn cảnh giải thoát, chẳng tự biết quấy. Cứ chấp cái tư tưởng như thế dẫu cho Phật ra đời cũng cứu không nổi. Trong giáo môn gọi là si-ám-hoặc (hoặc: mê hoặc). Tại sao vậy? Vì si nên chấp tà làm chánh, vì ám nên đọa nơi sở trọng mà chẳng thể lay động. Nếu ở nơi tâm vô sở khởi, ở nơi pháp vô sở trụ thì tự nhiên vô sở trọng. Vô sở trọng thì vô dục vô y, nơi pháp tự tại.
       
Hôm nay các ông muốn công phu được tương ưng cũng không khó, chỉ cần ở nơi tâm bình đẳng vô sở nhiễm trước. Thế nào là nhiễm trước? Cũng như sanh khởi chúng sanh tưởng, Phật tưởng, thế gian tưởng, xuất thế gian tưởng, cầu xuất ly tưởng, cầu Phật trí tưởng v.v... đều gọi là nhiễm trước. Nếu đang khi tâm nhiễm trước muốn khởi mà chưa khởi, dũng mãnh tinh tấn một cái nhảy ra, thì tâm này sáng tỏ độc thoát, vừa cảm thấy như vậy liền chuyển hướng lên trên thì tự nhiên nơi nào, chỗ nào cũng đều hiển bày sáng tỏ. Được đến chỗ điền địa này rồi cũng không được màng đến, nếu màng đến thì có sở trọng, vừa có sở trọng thì tâm này bị xì hơi. Như thế chỉ gọi là tâm xì hơi chẳng gọi là tâm bình đẳng. Nói bình đẳng là thiện với ác đẳng, thuận với nghịch đẳng, lý với sự đẳng, phàm với thánh đẳng, hữu lượng với vô lượng đẳng, thể với dụng đẳng… cái đạo lý này chỉ có kẻ chứng mới biết. Các ngươi nếu chưa chứng thì phải tự chứng lấy. Chứng rồi mới được gọi là chân xuất gia. Nếu tự tâm chưa chứng mà hướng ngoài tâm thủ chứng, ấy gọi là kẻ xuất gia ngoại đạo, chẳng thể làm hạt giống Phật.
      
Tâm này quảng đại chẳng có ngằn mé, vô lượng vô biên. Hằng sa chư Phật thành đẳng Chánh giác, sơn hà đại địa vạn tượng sum la đều chẳng ở ngoài tâm này. Tâm này hay đặt danh hiệu cho tất cả, mà tất cả chẳng thể đặt danh hiệu cho nó. Chư Phật chư Tổ vì tùy thuận sự điên đảo của chúng sanh, bất đắc dĩ đặt ra những tên gọi là Chân Như Phật Tánh, là Bồ Đề Niết Bàn. Cưỡng lập danh hiệu mỗi mỗi sai biệt là vì kiến giải chấp trước của chúng sanh có đủ thứ sai biệt nên mới lập những danh hiệu sai biệt này, khiến chúng sanh ngay chỗ sai biệt mà nhận lấy cái tâm chẳng sai biệt này, chớ chẳng phải tâm này có sai biệt vậy.
       
Tăng hỏi Mã Tổ: Thế nào là Phật?
       
Tổ nói: Tức Tâm là Phật.
       
Ông nếu thực chứng thực ngộ thì đâu có sai biệt, ông nếu không ngộ, chỉ cầu kiến giải kỳ lạ, chẳng thực chứng thực ngộ, chẳng ngộ tâm này là Phật, thì chính bốn chữ “Tức tâm là Phật” cũng thành nhân duyên sai biệt vậy. Lời Phật muốn dùng để thí dụ để hiển bày tâm này, rốt cuộc cũng chẳng có thí dụ nào mà thí dụ được. Nay nói quảng đại là đã làm hạn chế nó rồi, huống chi muốn dùng cái tâm có ngằn mé để nhập vào cái cảnh giới quảng đại này, dẫu cho nhập được thì cũng như dùng vỏ sò để đong nước biển, nước tuy đầy vỏ sò cũng chẳng được bao nhiêu. Nước biển trong vỏ sò dù rất ít, nhưng khi chưa vào vỏ sò vẫn vốn là cái nước vô hạn lượng, chỉ vì tâm lượng của ông nhỏ hẹp, cho đầy vỏ sò là đủ, nên cái cảnh giới vô hạn đó đã phải tùy theo cái sức đựng nhỏ hẹp của ông tự cho là đầy đủ mà thôi, chẳng phải nước biển chỉ có bấy nhiêu đâu! Nên Phật nói “Ví như biển lớn chẳng từ bỏ dòng nước nhỏ, dù con muỗi hay A Tu La uống nước đó đều được sung mãn”. Nước dụ cho tâm, con muỗi và A Tu La dụ cho lớn nhỏ sai biệt. Trên tâm thể này vốn chẳng số lượng sai biệt, hễ ông chẳng khởi tri kiến để nhận lấy mỗi mỗi sai biệt của tâm này tức là được tâm này vậy. Bậc Thánh xưa còn không cho chấp tâm này là thật, vậy ngoài tâm ra đâu còn vật gì thật để làm chướng nạn cho ông? Nay ta ngỏ lời dài dòng cũng là sự bất đắc dĩ, vì muốn dẫn dắt đứa bé đáng thương như mẹ mến con nên mới có những lời dây dưa nhắc ông. Nhưng chớ ghi nhớ lời ta cho là đúng vì hôm nay ta nói như thế, ngày mai lại không nói như thế. Ông vừa như thế thì ta lại không như thế. Khi ông không như thế thì ta lại như thế. Ông hướng vào đâu mà tìm chỗ ở của ta? Chính ta cũng chẳng tự biết chỗ ở, người khác làm sao tìm được?
         
Cái cửa ải này rất sống động, kẻ chết cái tâm hiện hành mới có thể vào được. Nhưng người hành giả hiện nay lại đem ít phần tinh tấn tụng kinh lễ Phật, giữ giới thân khẩu ý, cho là tu hành để mong cầu chứng đắc, thực ra đâu có dính dáng gì! Cũng như người si mê cúi đầu chạy về phương Tây mà muốn lấy vật ở phương Đông thì càng chạy càng xa, càng gấp càng trễ. Đây là pháp môn vô lậu vô công dụng, nếu sanh khởi mảy may tâm thủ chứng là trái ngược rồi, sao lại muốn nhờ một chút công hạnh hữu vi để thỏa mãn sự mong cầu? Vì người xưa được thấu suốt nên nói “Ta ngồi đó xem ông tham cứu, ta đứng đó xem ông tham cứu”. Đâu từng bảo ông bày đặt này nọ, tích chứa công đức, mong cầu thành đạo? Dẫu cho ông mong cầu được thành, thành rồi sẽ hoại, chỉ tự làm lao nhọc mà thôi.
          
Ông chớ nên nghe ta nói như thế rồi liền phế bỏ nhân quả làm nghiệp địa ngục. Tự tánh bình thường vô sự gọi là vô tri kiến, vô Phật pháp, đói thì ăn cơm, mệt thỉ ngủ nghỉ, đây là vô tu chứng, đây là vô công dụng, nhưng chớ nên hiểu lầm nhé!
         
Muốn gánh vác việc này phải là kẻ cứng cỏi như gang sắt đúc thành mới được. Những kẻ tiểu căn tiểu khí đâu thừa nhận. Cũng như Lâm Tế ba lần hỏi Hoàng Bá về đại ý của Phật pháp, sau này được Đại Ngu điểm phá bỗng nhiên đại ngộ, bất giác “ồ” lên một tiếng “Phật pháp của Hoàng Bá không có nhiều”. Đại Ngu nói “Ông vừa hỏi có lỗi hay không lỗi mà nay lại nói Phật pháp của Hoàng Bá vốn không có nhiều. Ông thấy cái gì mà nói như thế?” Lâm Tế gõ hai gõ vào nách Đại Ngu. Đại Ngu bèn gạt ra rồi nói “Thầy ông là Hoàng Bá không dính dáng với ta”.
       
Các ngươi tham thiền có được như thế chưa? Đối với việc này Vân Am Hòa Thượng tụng rằng:

              Bỗng nói Hoàng Bá pháp chẳng nhiều
              Trượng phu đâu thể tự chống chống trái
              Hai gõ dưới nách tỏ tin tức
              Chẳng từ Hoàng Bá phó chúc đây.

       Còn Thủ Đoan Hòa Thượng tụng rằng:

            Một tay đánh ngã Hoàng Lạc Lâu 
            Một chân đá nhào Anh võ Châu
            Lúc có ý khí thêm ý chí
            Chỗ chẳng phong lưu cũng phong lưu.

      Theo hai bài tụng của hai ông già này là đủ tư cách kế thừa dòng Lâm Tế, rất đáng làm con cháu của Ngài. May mắn xưa nay có sẵn thể cách như thế, tại sao không màng đến xem kỹ đó là đạo lý gì? Việc này như mặt trời giữa trời xanh, đâu có gì che khuất, mà các nơi lại có thiền “Vỏ sò” bày đặt kỳ lạ, đủ thứ sai biệt quanh co, có nói lời này lời nọ, nói khám phá lời kia, nói chẳng bị dính mắc v.v..
      
Lại có một bọn chấp lời trong kinh Lăng Nghiêm, trong Cảnh Lục nói “Mắt thấy tai nghe đều là tâm, chẳng phải pháp khác”. Lại lấy bài kệ tỏ ngộ của Thiều Quốc Sư (Nhị Tổ của tông PhápNhãn):  

            Phong đỉnh Thông Huyền chẳng phải nhân gian,
            Ngoài tâm chẳng pháp, đầy mắt núi xanh.

        Dùng để dẫn chứng, gọi là việc dưới gót chân, gọi là cơ sở, gọi là chỗ miên mật. Lãnh hội như thế cho là tốt. Nếu cứ lãnh hội như thế há chẳng phải là nhận vật làm tâm ư! Đã là tâm (mình) sao lại còn muốn nhận nó làm chi? Bọn này tự hủy bỏ chánh nhân, trở lại hành theo lối ma, thật đáng thương xót!