3. Truyền Đạt Tin Tức Nơi Một Niệm

(Niệm khởi liền đến, chẳng có số lượng của thời gian)

  • Khái niệm của tốc độ quãng nghĩa:

Đối với tốc độ của vật chất, khu vực tốc độ có thể chia ra làm ba lớp: nói một cách cụ thể là từ nơi khái niệm vật chất hiển tánh sanh ra tốc độ ẩn tánh (siêu tốc độ ánh sáng), ấy gọi là khái niệm tốc độ quãng nghĩa.

  • Ba lớp tốc độ quãng nghĩa:

1. Tốc độ hiển tánh => do vật chất vận động hiển tánh sanh ra => tốc độ ánh sáng là tốc độ cao nhất.

2. Tốc độ trung tánh => tốc độ vận động của quang tử (làn sóng ánh sáng) => tốc độ bằng tốc độ ánh sáng.

3. Tốc độ ẩn tánh => do tốc độ vận động ẩn tánh sanh ra => tốc độ ánh sáng là tốc độ thấp nhất.

Lý luận linh học cho là có sự tồn tại chân thật của làn sóng tin tức, là một thứ vận động thuộc tánh hư tử, siêu việt tốc độ ánh sáng.

  • Đặc tính của siêu tốc độ ánh sáng:

Tất cả hư tử mỗi mỗi đều có sự vận động siêu tốc độ ánh sáng khác nhau, cũng như tất cả thật tử mỗi mỗi đều có sự vận động kém tốc độ ánh sáng khác nhau vậy, các thật tử vận động theo phương thức chiều hướng (chiều thẳng hoặc cong) khác nhau nơi không gian; cũng vậy, các hư tử vận động theo phương thức tự xoay tự rung động khác nhau với thời gian.

Nói hư tử là chẳng có sự cấu tạo trong nội bộ, nghĩa là “Cực tiểu vô nội, chẳng có bề trong”, chẳng thể xếp hàng từng cái và có kẽ hở, chẳng thể phân chia theo toán học, chỉ như khái niệm tổng hợp hư hạt tử thành một “Hư thể toàn diện” của thời gian, vì họ chẳng có khái niệm không gian, chẳng thể vận động theo chiều hướng, nên chẳng có số lượng thời gian.

  • Hành lang không gian:

Nói “vận động theo chiều thẳng” về không gian hiển tánh của thật hạt tử là lời tương đối, thật ra đều vận động theo chiều cong. Bởi vì, địa cầu một mặt tự xoay, một mặt xoay vòng theo mặt trời. Vậy quỹ đạo vận động của tất cả hạt tử giữa hai điểm trên địa cầu chẳng thể là chiều thẳng, mà là một đường cong phức tạp. Chúng tôi gọi những đường cong vận động này là hành lang không gian.

Vật thể vận động nơi hành lang không gian, từ nhỏ như hạt tử cho đến lớn như ngân hà, đều có vị trí di động, có quỹ đạo, có điểm khởi và điểm cùng có tốc độ (tốc độ hiển tánh dưới tốc độ ánh sáng).

Các hạt tử vận động trong quỹ đạo nơi hành lang không gian, có thể chéo nhau, trùng điệp, đụng chạm; lúc tốc độ vận hành có thể chướng ngại với nhau mà chẳng thể xuyên thấu lẫn nhau, có thể đóng cục và tan nát.

Hành lang không gian thấy được, mò được, có thể thăm dò, đo lường điều khiển bằng máy móc. Khoa học hiện đại với hành lang không gian đã nghiên cứu rất nhiều rất sâu, ấy là vận động lực học.

  • Đường ngầm thời gian:

Tất cả hư hạt tử vận động nơi thời gian ẩn tánh, chẳng vận động theo đường cong mà chỉ rung động và tự xoay, chẳng có cấu kết nội bộ, nghĩa là “Kỳ tiểu vô nội”; vô số hư tử đầy khắp vũ trụ, hợp thành một quả cầu thời gian (khái niệm) “Kỳ đại vô ngại”. Hệ ngân hà cũng là vô trụ vô cực hỗn độn, vì hư tử chẳng có vị trí di động, chẳng có quỹ đạo vận động, chẳng điểm khởi và điểm cùng. Nhưng lại có khái niệm tốc độ là tốc độ rung động tự xoay theo ẩn tánh, mấu chốt của nó là truyền đạt tin tức trong một niệm, nghĩa là truyền tin tức bất kể xa gần, cũng hoàn tất trong một niệm, ấy gọi là đường ngầm thời gian.

Đường ngầm thời gian chẳng thể diễn đạt, như cự ly xa gần của không gian.

  • Đặc tính của đường ngầm thời gian:

Đường ngầm theo tiếng Hán là “Thụy đạo”, đạo này là đạo không thực thể (hư), nói đạo mà “Chẳng có đạo”, là cái đạo “Phi thường đạo”, nhưng lại có khái niệm thời gian.

Nói “Đường ngầm thời gian” là có chỉnh thể (toàn diện), có xuôi ngược, có làn sóng như mạng lưới, chẳng cần trải qua quá trình trung gian (chẳng quá trình). Do đó, chỉ có thể lý giải thành: truyền đạt tin tức đến cảnh giới thời gian theo ý muốn trong một niệm.

Việc truyền đạt tin tức trong một niệm nơi vũ trụ này là có sự tồn tại khách quan (tức đường ngầm thời gian), những nhà khí công và người có công năng đặc dị có thể quan sát quá khứ và dự đoán vị lai, nhận biết những sự việc xa xôi, đối với những sự việc chưa từng xuất hiện, cũng có thể dùng tâm linh nhìn thấy. Y niệm tâm linh đi lại là thông qua đường ngầm thời gian, trong một niệm thông suốt những cảnh giới và thời đại mà khoa học hiện đại chưa bao giờ đạt đến.

  • Sự truyền đạt của ý niệm lực:

Ý niệm lực là tổ hợp tin tức của hư tử, nó truyền đạt tin tức nơi một niệm, hư thái vận hành trong đường ngầm thời gian, siêu tốc độ ánh sáng. Do đó, chẳng kể xa gần, cổ kim, cảnh giới ẩn hiển hư thật đều có thể nhanh chóng đi lại, tự do khứ lai trong một niệm.

 Sự hình thành ý niệm năng của ý niệm lực thật kỳ lạ, có thể xuyên qua linh giới, điều khiển sự vật trong thời đại khác nhau của hai thế giới ẩn và hiển. Người xưa nói: “Thượng hạ tam thiên niên, tung hoành ngũ vạn lý”, cũng giao thông tin tức trong một niệm.

Đây dù là lý luận mới sáng lập, nhưng những nhà khí công đạt mức kỹ thuật đã thể hiện dấu tích bước đầu truyền đạt tin tức trong một niệm. Đối với lãnh vực vận động về trạng thái hư ẩn này, hy vọng tương lai có thể hướng về chiều sâu phát triển, đối với làn sóng tin tức, có thể chủ động điều khiển sự thu phát và phiên dịch.

  •  Vật lý ẩn tánh:

Sự thăm dò thể hệ, quy luật và nội dung của những vật chất quãng nghĩa về năng lượng và tốc độ v.v… sẽ bắt đầu từ số 0, từ ẩn đến hiển, từ hư đến thật, từ nguyên lý đến cảm nhận, từ suy tư đến lãnh hội, từ trong khoa học hiện đại bước ra, kiến lập môn học thế hệ mới của khoa học vô cực.

Môn học này ngang hàng với khoa học vật lý hiện đại, hư thật đối lập, chia lối cùng bước, nên chúng tôi gán cho cái tên gọi là “Ẩn tánh vật lý học”. Môn học này từ góc độ của lý luận triết học nhìn thấy tất cả bản chất của mọi sự vật dù bất khả tư nghì, cũng có thể phân tích giải phẩu bằng tính cách phiên dịch.

Chúng tôi sáng lập môn học thế hệ này, ý muốn khuyến dụ nhiều hiền triết có trí tuệ cao siêu, cùng nhau mở mang lý luận về không gian bốn chiều để tiến vào ẩn tánh vật lý học.

  •  Phiên dịch sự huyền bí của ẩn tánh:

Ẩn tánh vật lý học sẽ tuyển dụng vật lý hiện đại làm nền tảng tham khảo đối chiếu, lấy tương đối luận của ông Einstein làm bước thang sơ khởi và khuếch trương khái niệm của tương đối luận để kiến lập khái niệm quãng nghĩa tương đối, đem những vật lý lượng như sinh mạng, vật chất, năng lượng, tốc độ, tư duy, thời gian, không gian v.v… đặt trong học thuyết “ẩn hiển song tồn” mà định nghĩa lại từ đầu, cả gan thăm dò và mô tả theo khái niệm mới, công thức mới, phép tắc mới, nhờ vật lý ẩn tánh phiên dịch nguyên lý vô cực.

Việc này chẳng những có thể phát huy môn khí công học, còn có thể xúc tiến sự tiến trình cách mạng khoa học và kỹ thuật mới.