CÔNG ÁN TỔ ĐẠT MA (II)

٭

       Từ đó sáu tông đều thệ nguyện quy y nên sự giáo hóa của Tổ cùng khắp Nam Thiên Trúc. Tiếng tăm vang cả nước Ấn Độ, trải qua sáu mươi năm, độ chúng sanh vô lượng. Sau gặp lúc vua Dị Kiến (cháu gọi Tổ bằng chú) muốn hủy diệt Phật pháp, Tổ thương xót muốn cứu vớt cháu. Khi ấy sáu tông đều thầm nghĩ Tổ sẽ có cách để cứu vãn pháp nạn. Tổ từ xa biết ý của các chúng nên âm thầm búng tay báo tin cho họ. 
    
Sáu tông đều cùng nghe được mà nói:
         - “Tiếng búng ngón tay là hiệu báo tin của thầy chúng ta”. Rồi đều đến chỗ Tổ ở.
 
     
Tổ nói: 
         -  Nay Phật pháp có chướng nạn, ai đi diệt trừ?

      Có ông Tôn Thắng trước kia thuộc Vô Tướng tông xin đi. 
     
Tổ nói:
         -  Ngươi dù biện tài thông minh nhưng đạo lực chưa đủ, lại với vua chẳng có duyên.
 
    
Thắng không nghe, tự đến vua Dị Kiến rộng thuyết pháp yếu. 
    
Vua nói:
         -  Cái pháp của ông hiểu biết đó hiện nay ở đâu?
 
    
Thắng nói:
        -  Nhưng sự thống trị, giáo hóa của nhà vua là hợp với đạo vua, vậy hiện nay đạo vua ở đâu?
 
    
Vua nói:
         -  Đạo của ta sẽ trừ pháp tà. Pháp của ông sẽ hàng phục người nào?
 
     
Lúc bấy giờ, Tổ đang ngồi trên tòa đã biết trước lý của Tôn Thắng sẽ thua, bảo Ba La Đề rằng:  
        -  Tôn Thắng chẳng nghe lời ta, đi biện luận với vua sắp thất bại rồi. Ngươi hãy mau đi cứu.

Ba La Đề nói: Xin nhờ thần lực. 
   
Nói xong, có đám mây đỡ chân đưa đi gặp vua. Vua đang hỏi Tôn Thắng, chợt thấy, ngạc nhiên quên hỏi tiếp mà nhìn Ba La Đề nói:
        -  Kẻ bay trên không đến là chánh hay là tà?

       Đề nói:
        - Ta chẳng phải tà chánh mà đến đây để chánh lại cái tà. Tâm vua nếu chánh thì ta chẳng tà chánh.
 
     
Vua tuy cảm thấy kinh dị nhưng tánh kêu mạn đang lúc bừng, liền ra lệnh đày Tôn thắng đi xa. 
   
Ba La Đề nói: 
        -  Vua đã có đạo sao lại đày Sa môn? Ta dù không hay, xin vua cứ hỏi.
 
    
Vua giận mà hỏi: 
        - Thế nào là Phật?
 
    
Đề đáp: 
        -  Kiến tánh là Phật.
 
    
Vua hỏi:
        -   Sư kiến tánh chăng?
 
     
Đề đáp: 
        - Ta kiến Phật tánh.
 
    
Vua hỏi:
         - Tánh ở chỗ nào?
 
    
Đề đáp:
          -  Tánh ở nơi tác dụng.
 
    
Vua hỏi:
          -  Là tác dụng gì, nay ta chẳng thấy?
 
    
Đề đáp:
          -  Hiện đang tác dụng, vua tự chẳng thấy.
 
    
Vua hỏi:
          -  Nơi ta có chăng?
 
    
Đề đáp:
          -  Vua nếu tác dụng thì thể cũng khó thấy.
 
    
Vua hỏi:
          -  Nếu khi đang dụng có mấy chỗ xuất hiện?
 
    
Đề đáp: 
          -  Nếu xuất hiện sẽ có tám chỗ.
 
    
Vua nói:
          -  Tám chỗ xuất hiện nào nói cho ta nghe.
 
    
Ba La Đề liền thuyết kệ rằng: 
                    
Nơi thai là thân
                        
Ra đời là người
                        
Nơi mắt là thấy
                         
Nơi ta là nghe
                        
Nơi mũi là ngửi
                        
Ở miệng đàm luận
                        
Ở tay cầm lấy
                        
Ở chân đi đứng
                        
Hiện khắp bao gồm hằng sa thế giới
                         
Thu nhiếp lại ở trong hạt bụi nhỏ
                        
Kẻ nhận được, biết là Phật tánh 
                        
Kẻ chẳng biết gọi là linh hồn.
        
Vua nghe kệ xong tâm liền khai ngộ, sám hối tạ lỗi nhìn nhận trước kia làm sai. Rồi vua hỏi:
         -  Sư nối pháp ai?
 
     
Đề đáp: 
         -  Bồ Đề Đạt Ma, tức là chú của Đại Vương.
 
    
Vua liền cho cận thần nghênh tiếp Tổ đến cung vua. Tổ bảo vua sám hối lỗi trước. Vua nghe xong rơi lệ cảm tạ, rồi ra lệnh cho Tôn Thắng về nước. 
    
Cận thần nói:
          -  Tôn Thắng khi bị đày đã gieo mình xuống vực bỏ mạng rồi.
 
    
Tổ nói: 
         -  Thắng còn sống, lệnh vua triệu sẽ đến.
 
    
Ban sơ, Tôn Thắng bị đày, tự thấy hổ thẹn gieo mình xuống vực. Bỗng có thần nhân cứu để trên tảng đá. 
   
Thắng nói:
         -  Ta là bậc Sa môn lấy chánh pháp làm chủ, vì chẳng thể sửa cái quấy của vua nên bỏ mình tự trách. Nay thần sao tự cứu giúp, xin nói rõ nguyên do?

Thần nhân bèn nói kệ rằng: 
                    
Xưa thọ đến trăm tuổi,
                        
Tám mươi vẫn làm sai.
                        
Thân cận bậc chí tôn,
                        
Huân tu mà nhập đạo.
                        
Tuy có ít trí huệ,
                        
Nhưng còn nhiều nhân ngã.
                        
Gặp các bậc Hiền Thánh,
                        
Chưa nổi lòng cung kính.
                        
Hai mươi năm công phu,
                        
Cái tâm vẫn chưa tịnh.
                        
Vì thông minh khinh mạn,
                        
Mà thọ quả như thế.
                         
Ngươi gặp vua bị khinh,
                        
Cảm quả đúng như vậy.
                        
Từ nay chẳng giải đãi,
                        
Chẳng lâu thành bậc trí.
                        
Chư Thánh đều hộ niệm,
                         
Như Lai cũng như vậy. 
     
Thắng nghe kệ vui mừng, rồi tĩnh tọa trên tảng đó. Đến đây, sứ thần của vua vào núi triệu về. 
     
Khi đó ở trong cung, Tổ nói với vua:
        -   Biết Thắng chịu đến chăng?
 
     
Vua nói: 
        -  Chưa biết.
 
      T
ổ nói:
          -  Phải ra lệnh thứ hai mới được.
 
    
Khi sứ thần đến núi thì Thắng từ chối. Quả thực, sau đó được lệnh thứ hai mới chịu về. 
     
Tổ nghĩ đến việc Đông độ Trung Quốc theo như Phật đã thọ ký rằng “Năm trăm năm về sau ngọn đèn trí Bát nhã sẽ tỏ ánh sáng nơi đó”, nên phó chúc đệ tử là Bát Nhã Mật Đa La lưu ở Thiên Trúc hoằng pháp, rồi tự mình sang Trung Quốc. Trước khi khởi hành, Ngài tới lễ bái tháp chư Tổ, từ giả bạn học và khuyên vua siêng tu hạnh nghiệp, nói:
         -   “Tôi đi mười chín năm sẽ về”.
 
     
Tổ đi đường biển trải qua ba năm mới đến Trung Quốc, nhằm năm thứ bảy niên hiệu Phổ Thông đời Lương, là ngày 21 tháng 9 năm Canh Tý. Lúc ấy châu trưởng Quảng Châu là Tiêu Ngang nghênh tiếp cúng dường đủ lễ, trình biểu văn báo cho Võ Đế. Võ Đế sai sứ thần nghênh thỉnh, nhằm ngày 11 tháng 10, Tổ đến thủ đô Kim Lăng. 
     
Đế hỏi:
        -  Trẫm từ khi lên ngôi đến nay, cất chùa, in kinh, độ Tăng chẳng thể kể xiết. Như thế có công đức gì?
 
    
Tổ đáp:
           -  Chẳng phải là công đức.
 
     
Võ Đế hỏi:
           -  Tại sao chẳng phải là công đức?
 
     
Tổ đáp:
           -   Ấy chỉ là cái tiểu quả trời người, là cái nhân hữu lậu, như ảnh tùy hình, dù có mà chẳng thật.
 
     
Võ Đế hỏi:
           -  Thế nào chân công đức?
 
     
Tổ đáp: 
           -  Tịnh trí diệu viên thể tự không tịch. Công đức như thế chẳng do làm việc thế gian mà cầu được.
 
     
Võ Đế lại hỏi:
            -  Thế nào là Thánh đế đệ nhất nghĩa?
 
     
Tổ đáp:
            -  Rõ ràng vô thánh.
 
     
Võ Đế hỏi:
            -  Hiện ở trước mặt trẫm là ai?
 
     
Tổ trả lời:
            -  Không biết.
 
     
Võ Đế không ngộ được. 
      
Tổ biết cơ chẳng khế hợp, đến ngày 19 tháng đó âm thầm qua sông đi nước Ngụy. Ngày 23 tháng 11 đến thành phố Lạc Dương, ngụ tại Thiếu Lâm Tự núi Tung Sơn. Suốt ngày im lặng hướng vách tĩnh tọa, người đời chẳng biết lại gọi là “Bà La Môn quán vách”. 
      
Biệt truyện ghi rằng:
        -
“Sau khi Tổ bỏ đi, Võ Đế đem chuyện này nói với Chí Công. 
      
Công hỏi:
            -  Bệ hạ biết người này chăng?
 
      
Võ Đế trả lời: 
            -  Không biết.
 
      
Công nói:
            -  Ấy là Quan Âm Đại Sĩ truyền tâm ấn Phật.
 
      
Võ Đế ăn năn muốn sai sứ thần đuổi theo thỉnh về. 
      
Công nói:
            -  Đừng nói sai một sứ thần, dẫu cho người cả nước đi thỉnh, Ngài cũng không về”.
 
      
Sau này, Thiền sư viên Ngộ kể chuyện này với chúng rằng: Cái không biết của Võ Đế nói, so với cái không biết của Tổ Đạt Ma nói, là đồng hay là khác? Giống thì có giống, phải thì không phải. Phần đông hiểu lầm rằng cái “không biết” của Tổ Đạt Ma là đáp về thiền, cái “không biết” Võ Đế đáp câu hỏi của Chí Công, là cái không biết thuộc về nhận biết. Đoán mò như thế trọn chẳng dính dáng. Nếu lúc bấy giờ, Chí công hỏi như thế thì cần trả lời như thế nào? Theo ta thì chẳng bằng một gậy đánh chết cho xong, tránh cho người ta suy đoán hồ đồ.

٭

        Có Tăng Thần Quang ở xứ Y Lạc, rộng xem đủ thứ kinh sách, khéo luận lý nhiệm màu, thường than rằng: “Giáo của Khổng Tử nói về phong tục lễ nhạc, sách của Lão Trang cũng chưa đến diệu lý cùng tột. Gần đây nghe nói Đại sĩ Đạt Ma là bậc chí nhân, ở Thiếu Lâm Tự chẳng cách xa, phải đến tham vấn”. Bèn đi đến chỗ Tổ tham học. Thấy Tổ suốt ngày im lặng hướng vách không một lời dạy bảo, Quang tự thầm nghĩ: “Người xưa từng trải tóc che sình, cho đến chẳng tiếc máu thịt, xương tủy để cúng dường cầu đạo. Xưa còn như vậy, nay ta không làm được sao”. Gặp đêm tuyết lớn, Quang đứng hầu ngoài cửa suốt đêm, gần sáng tuyết ngập quá đầu gối nhưng vẫn đứng yên chỗ đó, một lòng cung kính.  
      
Tổ nhìn thấy, thương xót hỏi rằng:
           -  Ngươi đứng lâu trong tuyết muốn cầu việc gì?
 
      
Quang rơi lệ nói:
           -  Xin Hòa thượng từ bi mở cửa cam lồ rộng độ chúng sanh.
 
      
Tổ nói:
           -  Diệu đạo của chư Phật phải nhiều kiếp siêng năng tinh tiến, hành chỗ khó hành, nhẫn chỗ khó nhẫn mới được, đâu thể dùng thiểu đức thiểu trí, khinh tâm mạn tâm mà được.

Quang nghe lời Tổ khích lệ, liền lấy dao bén chặt cánh tay trái để trước bàn Tổ.  
      
Tổ biết là pháp khí, nói:
          -  “Chư Phật ban sơ cầu đạo vì pháp quên mình. Nay ngươi chặt cánh tay trước ta cầu pháp, ta cũng hứa khả”.
      Do đó Tổ đổi tên cho Quang là Huệ Khả.
 
     
Huệ Khả hỏi:
         -  Pháp ấn của chư Phật con được nghe chăng?
 
     
Tổ nói:
         -  Pháp ấn của chư Phật chẳng do người khác mà được.
 
     
Khả nói:
        -  Tâm con chưa an, xin thầy an cho.
 
     
Tổ nói:
        -   Đem tâm lại để ta an cho.
 
     
Giây lâu, Khả nói:
        -  Tìm tâm trọn chẳng thể đắc.
 
     
Tổ nói:
           -  Ta đã an tâm cho ngươi rồi.

٭

      Chín năm sau, Tổ muốn về Thiên Trúc, một hôm nói với môn đồ rằng: 
           -  Thời tiết đã đến, các ngươi hãy tự kể sự sở đắc của mình.
 
     
Có đệ tử Đạo phó nói:
           -  Theo chỗ thấy của con, chẳng chấp văn tự, chẳng lìa văn tự, ấy là dụng của đạo.
 
     
Tổ nói:
         -  Ngươi được da của ta.
 
     
Ni Tổng Trì nói:
         -  Hiểu biết của con như Tôn giả Khánh Hỷ thấy cõi Phật Bất Động, một cái thấy vốn đầy đủ, chẳng cần thêm cái thấy nữa.
 
     
Tổ nói:
         -  Ngươi được thịt của ta.
 
     
Đạo Dục nói:
         -  Tứ đại vốn không, ngũ ấm chẳng có, chỗ thấy của con không có một pháp để đắc.
 
     
Tổ nói:
         -  Ngươi được xương của ta.

        Sau cùng, Huệ Khả ra lễ bái rồi trở về đứng lại chỗ cũ. 
     T
ổ nói:
         -  Ngươi được tủy của ta. Thuở xưa, Như Lai đem Chánh pháp nhãn tạng phó chúc cho Đại sĩ Ca Diếp rồi truyền thừa từng đời cho đến thân ta. Nay ta phó chúc cho ngươi, ngươi hãy hộ trì. Đồng thời truyền cà sa cho ngươi để làm tin cho pháp.
 
      
Khả xin Tổ chỉ dạy cho rõ. 
      
Tổ nói:
        -  Trong truyền pháp ấn để khế chứng bản tâm, ngoài phó cà sa để xác định tông chỉ. Vì sợ người đời sau lòng tin chưa vững sanh ra nghi ngờ, nói “Ta là người Ấn Độ, ngươi là người Trung Quốc, nhờ gì mà đắc pháp, lấy gì để chứng tỏ”? Nay ngươi thọ nhận y, pháp này. Về sau có chướng nạn xảy ra hãy lấy y, và kệ truyền pháp của ta dùng để chứng minh thì sự giáo hóa sẽ vô ngại.
 
     
Hai trăm năm sau khi ta nhập diệt phải ngưng sự truyền y. Về sau, chánh pháp cùng khắp pháp giới, kẻ biết đạo thì nhiều, kẻ hành đạo thì ít, kẻ thuyết lý thì nhiều, kẻ thấu lý thì ít. Nay ngươi xiển dương pháp này chớ khinh người chưa ngộ. Hễ được một niệm trở về cội nguồn thì đồng như bản đắc, sự âm thầm mặc chứng sẽ muôn muôn ngàn ngàn. Hãy nghe ta nói kệ đây: 
                    
Ta đi đến đất này,
                         
Truyền pháp cứu người mê.
                        
Một bông nở năm nhánh,
                        
Kết quả tự nhiên thành. 
     
Tổ lại nói:
         -  Ta có kinh Lăng Già bốn quyển nay cũng giao phó cho ngươi dùng để ấn chứng hậu học. Ấy là tâm địa yếu môn của Như Lai khiến các chúng sanh khai thị ngộ nhập.

       Từ khi ta đến đất này đã bị đầu độc năm lần. Ta đem độc để trên tảng đá thì tảng đá nổ bung. Ta lìa Ấn Độ đến Trung Quốc là vì thấy đất này có khí tượng Đại thừa, nên vượt biển vì pháp cầu người. Vì nhân duyên chưa đến nên thị hiện ngu dại hướng vách chờ đợi, nay được ngươi để phó pháp thì ý ta đã thỏa mãn. 
    
Nói xong cùng môn đồ đến chùa Thiên Thánh ở Vũ Môn, lưu lại đó ba ngày. Có Thái thú Kỳ Thành tên Dung Huyền Chi hâm mộ Phật thừa, hỏi Tổ rằng:
        -  Ở Tây Thiên Ấn Độ, sự truyền thừa làm Tổ là thế nào?
 
    
Tổ nói:
         -  Thấu tâm tông (Thiền tông) của Phật, hạnh giải tương ưng, ấy gọi là Tổ.
 
    
Lại hỏi:
        -  Ngoài ra còn có gì nữa?
 
    
Tổ nói: Cần tin tự tâm bất nhị chẳng có tương đối. Nên đối với các chẳng chấp hữu vô, chẳng lấy chẳng bỏ, chẳng trí chẳng ngu, chẳng mê chẳng ngộ. Đã được thấu đạt nên xưng là Tổ. 
    
Huyền Chi nói: Đệ tử quy y Tam bảo đã nhiều năm mà trí huệ ám muội, còn mê chân lý. Vừa nghe sư nói vẫn chưa biết rõ, xin sư từ bi khai thị tông chỉ. 
    
Tổ biết Huyền Chi khẩn thiết, liền thuyết kệ rằng: 
                     C
ũng chẳng thấy ác mà khinh chê,
                        
Cũng chẳng thấy thiện mà khen ngợi,
                        
Cũng chẳng xa ngu mà gần trí,
                        
Cũng chẳng bỏ mê mà lấy ngộ,
                        
Đại đạo thì siêu việt số lượng,
                        
Thông tâm Phật thì tự động độ sanh,
                        
Chẳng trói buộc nơi phàm Thánh,
                         
Siêu nhiên gọi đó là Tổ. 
    
Huyền Chi nghe kệ bi, hỷ xen nhau mà rằng: Xin sư thường trụ thế gian để hóa đạo quần sanh. 
    
Tổ nói:
         -  Ta sẽ đi về, chẳng thể ở lâu. Chúng sanh căn tánh muôn ngàn sai biệt nên ta phải gặp nhiều ngu mê làm chướng nạn cho ta (biết trước sẽ bị người đầu độc).
 
    
Huyền Chi nói:
         -  Có thể cho biết người nào để đệ tử vì sư trừ được chăng?
 
      
Tổ nói:
          -  Ta truyền Phật bí tạng để lợi ích kẻ mê, đâu thể hại người để tự yên. Ắt chẳng có lý này.
 
      
Huyền Chi nói:
          -  Sư nếu không nói ra làm sao thị hiện sức biến thông quang chiếu.
 
     
Tổ bất đắc dĩ mới cho bài sấm rằng: 
                    
Thuyền sông vạch sóng ngọc,
                        
Ống đuốc mở khóa vàng.
                        
Ngũ khẩu cùng đi chung,
                        
Cửu thập vô nhân ngã. 
    
Huyền Chi chẳng thể đoán hiểu được, đành lễ bái cáo từ. 
     
Lúc bấy giờ, Vua nước Ngụy rất kính Phật thừa. Trong đạo có nhiều Cao Tăng như Quang Thống luật sư, Lưu Chi tam tạng… đều là loan phụng trong hàng Cao Tăng, mà tư tưởng chủ trương lại trái ngược nhiều với Tổ. Đạo phong của Tổ truyền đi khắp nơi, kẻ trí thức đều quy tụ lại cầu pháp làm cho họ sanh tâm ganh tị, đầu độc năm lần cũng không gây hại được. Đến lần thứ sáu, Tổ đã truyền pháp cho Nhị Tổ, việc hóa duyên đã xong, nên thị hiện trúng độc mà tịch. Môn đồ mai táng Tổ trên núi Hùng Nhĩ, xây tháp nơi Định Lâm Tự. 
    
Năm ấy sứ thần nước Ngụy là Tống Vân từ Sung Đỉnh (biên giới Ấn Độ) về, giữa đường thấy Tổ xách chiếc giầy đi nhẹ nhàng như bay. 
   
Vân hỏi:
            -  Đại sư đi đâu vậy?
 
    
Tổ nói:
            -  Đi về Thiên Trúc.
 
   
Vân về kinh tâu chuyện với vua. Khi vua ra lệnh cho môn đồ của Tổ đào mả thì thấy trong quan tài trống rỗng chỉ còn có một chiếc giầy. Vua ban chiếu đem chiếc giầy ấy thờ phụng nơi Thiếu Lâm Tự. 
   
Đến năm thứ mười lăm niên hiệu Khai Nguyên đời Đường, nhằm năm Đinh Mão, bị tín đồ trong đạo ăn trộm đem về Ngũ Đài Sơn. Hiện nay đã mất tích chẳng biết ở đâu.