CÔNG ÁN TỔ ĐẠT MA (I)

    Sơ tổ Bồ Đề Đạt Ma là người Nam Thiên Trúc, con thứ  ba của vua nước Hương Chí, họ Sát Đế Lợi, trước tên là Bồ Đề Đa La, về sau khi đắc pháp nơi Tôn giả Bát Nhã Đa La, Tôn giả nói:

   - “Ngươi đối với các pháp đã được thông đạt. Đạt Ma là thông đạt đại nghĩa, nên ta đổi tên cho ngươi là Đạt Ma”.

           
   Tổ hỏi Tôn giả:
         - Nên đi nước nào làm Phật sự?
  
   Tôn giả nói:
         - Ngươi dù đắc pháp, chưa thể đi xa; hãy tạm ở Nam Thiên Trúc, đợi sau khi ta diệt độ sáu mươi bảy năm, thì nên sang Trung Quốc thí đại pháp dược, tiếp người thượng căn. Chớ nên đi gấp mà có thể thành chướng duyên.
  
  Tổ lại hỏi:
         - Nước Trung Quốc có bậc đại sĩ kham làm pháp khí chăng? Ngàn năm về sau có chướng nạn chăng?
  

    Tôn giả đáp:
         - Chỗ ngươi hoằng hóa, người được chứng quả Bồ đề chẳng thể kể xiết. Sau khi ta diệt độ hơn sáu mươi năm, nước ấy có nạn, tà pháp trôi nổi, ngươi hãy khéo đi hàng phục. Ngươi đến nước ấy chớ nên lưu lại miền Nam vì họ chỉ ham công nghiệp hữu vi, chẳng thấu lý Phật, dù ngươi đến cũng chẳng thể lưu lại đó đâu. Nghe bài kệ ta đây:              

                              Giữa đường vượt biển gặp con dê,
                       
Một mình vắng lặng lén qua sông,
                       
Đáng tiếc roi ngựa dưới mặt trời,
                       
Hai cây quế tươi lâu mãi mãi.       
   Tổ lại hỏi: 
         - Về sau còn có việc gì không?
  
   Tôn giả đáp:
         - Một trăm năm mươi năm về sau thì có nạn nhỏ. Nghe kệ sấm đây:
 
                            
 Trong tâm cát tường, bên ngoài hung,
                       
Tăng phòng thiên hạ gọi không trúng,
                       
Vì gặp độc long sanh võ tử,
                       
Bỗng gặp chuột con tịch vô cùng.   
  Tổ lại hỏi:
         - Về sau thế nào?
    
  Tôn giả đáp:
          - Hai trăm năm mươi năm về sau, dưới Tòng Lâm sẽ gặp một người đắc đạo quả. Nghe kệ sấm đây:
         
                              Trung Quốc tuy rộng chẳng đường khác,

                       
Càng nhờ con cháu đi dưới chân,
                       
Gà vàng biết ngậm một hạt lúa,
                       
Cúng dường mười phương La Hán Tăng.
  
Tổ vâng lời dạy bảo, siêng năng phục bốn mươi năm, đến khi Tôn giả viên tịch mới ra hoằng hóa khắp trong nước. Lúc ấy có hai sư, một vị là Phật Đại Tiên, một vị là Đại Thắng Đa, trước là bạn của Tổ cùng học Thiền quán Tiểu thừa với ngài Phật Đà Bạt Đà. Phật Đại Tiên đã gặp Tôn giả Bát Nhã Đa La, bỏ Tiểu thừa hướng Đại thừa, được ngộ và cùng Tổ hoằng hóa. Lúc bấy giờ người đời xưng là “hai cửa cam lồ”. Còn Phật Đại Thắng Đa La chia môn đồ thành sáu tông:
      
 1. Hữu Tướng tông.
         2. Vô Tướng tông.
         3. Định Huệ tông.
         4. Giới Hạnh tông.
         5. Vô Đắc tông.
         6. Tịch Tịnh tông.
  
Các tông mỗi mỗi tự ôm chặt kiến giải của tông mình tự cho là cội nguồn, triển khai hoằng hóa khác nhau.
  
 Tổ than rằng:
          - Một thầy kia đã lún chân xuống sình lại còn chi ly làm sáu tông, nếu ta chẳng đi phá trừ thì họ vĩnh viễn bị trói trong tà kiến.
 
   
Nói xong hiện chút thần lực đến nơi Hữu Tướng tông hỏi:
          - Sao lại gọi tất cả các pháp là Thực tướng?
Tông trưởng trong chúng là Tát Bà La 
      Đáp: Nơi các tướng chẳng biết lẫn nhau gọi là Thực tướng.
 
   
Tổ hỏi: Tất cả tướng chẳng biết lẫn nhau, nếu gọi là Thực tướng thì lấy gì để xác định?
   
Đáp: Nơi các tướng thực bất định. Nếu các tướng nhất định thì sao gọi là thực! (5) 
    T
ổ hỏi: Các tướng bất định, chẳng nói chứng các tướng. Khi nói chứng các tướng thì nghĩa ấy cũng bất định vậy.
   
Tổ hỏi: Ông nói bất định tức là Thực tướng. Định nếu bất định tức phi Thực tướng.
   
 Đáp: Định đã bất định tức phi Thực tướng. Vì biết ta phi (ta phi là vô ngã) nên bất định bất biến.
   
Tổ nói: Nay ông bất biến sao gọi Thực tướng. Nếu biến thì biến mất, cũng không gọi là Thực tướng.
   
Đáp: Bất biến nên tồn tại, vì tồn tại chẳng thực nên gọi là biến Thực tướng để xác định nghĩa ấy.
   
 Tổ hỏi: Thực tướng chẳng biến, biến thì chẳng thực. Nơi pháp hữu vô cái nào gọi là Thực tướng?
  
Tát Bà La biết Tổ là Thánh sư, đã thấu suốt nghĩa lý, liền dùng tay chỉ hư không rằng:
         - Đây là hữu tướng của thế gian vì có thể không. Nay thân ta được giống không này chăng?

      Tổ nói:
         - Nếu thấu Thực tướng thì thấy phi tướng. Nếu liễu phi tướng, sắc ấy cũng vậy. Khi ở nơi sắc chẳng mất bản thể của sắc, ở trong phi tướng chẳng ngại sự có. Nếu được thấu hiểu như thế, ấy gọi là Thực tướng.

        
Họ nghe xong tâm ý khai mở, khâm phục lễ bái tín thọ.

Chú giải :
(5) Kinh Kim Cang viết: “Nếu thấy các tướng không phải là tướng mới là thấy Thực tướng”. 

  ٭              

    
Tổ thình lình biến mất, rồi đến chỗ Vô Tướng tông hỏi: 
             -  Ông nói Vô tướng làm sao chứng tỏ?
 
    
Trong chúng họ có ông Ba La Đề đáp:
             -  Vì tâm chẳng hiện nên nói Vô tướng.
 
    
Tổ hỏi: 
             - Tâm ông chẳng hiện lấy gì chứng minh ?
 
    
Đáp: 
             - Ta biết Vô tướng, tâm chẳng lấy bỏ. Đang lúc biết cũng chẳng có kẻ biết.
 
    
Tổ nói:
            -  Nơi hữu và vô, tâm chẳng lấy bỏ, cũng chẳng có kẻ biết thì cái biết thành không.
 
    
Họ nói:
            - Nhập Tam muội Phật còn vô sở đắc, huống là Vô tướng mà còn muốn biết nó.
 
    
Tổ hỏi:
            - Tướng đã chẳng biết, ai nói hữu, vô. Còn vô sở đắc thì lấy gì gọi là Tam muội ?
 
    
Đáp: 
            - Ta nói chẳng chứng nghĩa là chứng vô sở chứng. Vì phi Tam muội, ta nói Tam muội.
 
    
Tổ hỏi:
            - Nếu phi Tam muội lấy gì đặt tên. Ông đã chẳng chứng “vô chứng” làm sao mà chứng ?
 
    
Ba La Đề nghe Tổ phân tích liền ngộ bản tâm, đảnh lễ với Tổ tạ lỗi sám hối. Tổ thọ ký rằng:
            - Ông không bao lâu sẽ chứng quả. Nước này có ma nhưng sẽ hàng phục.
 
    
Nói xong thình biến mất.

*

      Tổ đến Định Huệ tông hỏi:
            -  Ông học định huệ là một hay là hai ?
 
    
Trong chúng họ có ông Bà Lan Đà đáp:
            -  Định huệ ta đây chẳng một chẳng hai.
 
    
Tổ hỏi: 
             - Đã chẳng một hai sao gọi định huệ ?
 
    
Đáp: 
             - Ở định chẳng định, nơi huệ chẳng huệ. Một tức chẳng một, hai cũng chẳng hai.
 
    
Tổ hỏi: 
            - Lúc một chẳng một, lúc hai chẳng hai, đã chẳng định huệ lấy gì gọi là định huệ ?
 
    
Đáp: 
            - Chẳng một chẳng hai, định huệ năng biết, chẳng định chẳng huệ thì cũng như vậy.
 
    
Tổ nói:
            - Huệ chẳng phải huệ, lấy gì để biết? Chẳng một chẳng hai, ai định ai huệ ?
 
    
Bà Lan Đà nghe xong, tâm nghi liền tan rã.

٭              

     Tổ đến Giới Hạnh tông hỏi:
            -  Thế nào là giới? Thế nào là hạnh? Cái giới hạnh là một hay là hai ?
 
    
Trong chúng họ có một Hiền giả đáp:
            -  Một hai, hai một do nó tự sanh. Tuân theo giáo điều chẳng nhiễm gọi là giới hạnh.
 
    
Tổ nói:
            -  Ông nói tuân theo giáo điều tức là có nhiễm. Vậy một hai cùng phá, đâu thể nói là tuân theo giáo điều. Cả hai đều chống trái (6) chẳng theo nơi hạnh thì trong ngoài chẳng rõ, sao gọi là giới ?
 
     
Đáp: 
            - Ta nói trong ngoài, ấy đã biết xong, đã được thông đạt. Nếu nói chống trái, cũng đúng cũng sai. Nói đến thanh tịnh, tức giới tức hạnh.
 
     
Tổ hỏi: 
            - Cũng đúng cũng sai sao nói thanh tịnh? Đã được thông đạt còn gì trong ngoài ?

        Hiền giả nghe xong liền tự hổ thẹn, tỏ lòng khâm phục.

*

       Tổ đến chỗ Vô Đắc tông hỏi: 
             - Ông nói vô đắc, vô đắc làm sao đắc? Đã vô sở đắc cũng vô đắc để đắc.
 
     
Trong chúng họ có ông Bảo Tịnh đáp:
             -  Ta nói vô đắc, chẳng phải vô đắc để đắc. Lúc nói đắc cái đắc, vô đắc là đắc.
 
      
Tổ hỏi:
            -  Đắc đã vô đắc thì chẳng phải là đắc. Đã nói đắc cái đắc, vậy đắc cái đắc đó làm sao đắc?
 
      
Đáp:
             - Thấy đắc là phi đắc, phi đắc gọi là đắc. Nếu thấy vô đắc gọi là đắc cái đắc.

         Tổ nói:
             - Đắc đã phi đắc, đắc cái vô đắc. Đã vô sở đắc lấy gì đắc cái đắc?

          Bảo Tịnh nghe xong bỗng phá lưới nghi.

٭

      Tổ đến chỗ Tịch Tịnh tông hỏi: 
             - Thế nào là tịch tịnh? Ở trong pháp này ai tịch ai tịnh?

       Trong chúng họ có một Tôn giả đáp: 
              - Tâm này bất động, ấy gọi là tịch. Nơi pháp vô nhiễm, ấy gọi là tịnh.
 
    T
ổ nói:
              - Bản tâm bất tịch mới phải nhờ tịch tịnh. Nếu vốn là tịnh thì đâu cần tịch tịnh.
 
    
Họ nói:
              - Các pháp vốn không vì không đã không. Vì không đã không nên ở nơi cái không đã không ấy gọi là tịch tịnh.
 
   
Tổ nói:
              - Không không đã không, các pháp cũng vậy. Tịch tịnh vô tướng thì cái nào là tịch, cái nào là tịnh?
 
   
Tôn giả ấy nghe Tổ chỉ dạy hoát nhiên khai ngộ.