CÔNG ÁN PHẬT THÍCH CA (II)

Ương Khoát Ma La đi khất thực đến cửa nhà một Trưởng giả, trong nhà có một phụ nữ đang gặp sản nạn. 
    
Trưởng giả nói:
       -  Ông là bậc Thánh đệ tử của Phật, vậy có pháp nào giúp thoát khỏi sản nạn này chăng?
 
    
Ương Khoát nói với Trưởng giả rằng:
      -  Tôi vừa mới nhập đạo, chưa biết pháp này. Hãy đợi tôi về hỏi Thế Tôn rồi sẽ trở lại báo cho biết.
 
    
Liền trở về đem chuyện này bạch Phật, Phật bảo Ương Khoát:
      - Ngươi đi mau nói cho họ rằng “Ta từ pháp Hiền Thánh đến nay chưa từng sát sanh”.
 
   
Ương Khoát vâng lời Phật, chạy nhanh đến báo cho nhà Trưởng giả phụ nữ nhà đó nghe xong tức khắc sanh đứa con ra.

٭

      Một hôm Thế Tôn thấy Văn Thù đứng ngoài cửa nên kêu: 
 
       -  Văn Thù! Văn Thù! Tại sao không vào cửa đi ? 
   
Văn Thù nói:
        -  Con chẳng có một pháp ở ngoài cửa, sao lại bảo con đi vào cửa !

٭

      Bồ tát Vô Biên Thân đem cây trúc trượng đo lường đảnh của Thế Tôn. Một trượng sáu, Ngài cứ đo mãi như thế đến cõi trời Phạm Thiên cũng không thấy đảnh của Thế Tôn, rồi bỏ trúc trượng chắp tay thuyết kệ rằng: 
                       
Hư không chẳng biên giới,
                            
Công đức Phật cũng vậy.
                             
Nếu có kẻ đo lường,
                            
Suốt kiếp chẳng thể hết.

 ٭

    Vua Càn Thát Bà vì Thế Tôn cúng dường âm nhạc. Lúc ấy sơn hà đại địa đều phát ra tiếng đàn, Ca Diếp đứng dậy múa vũ. 
    
Vua hỏi Phật:
        - Ca Diếp là bậc A la hán, tập lậu đã sạch, tại sao còn có tập khí sót lại vậy?
 
     
Phật nói:
        - Thật chẳng có sót lại, chớ nên phỉ báng pháp.
 
     
Vua lại đàn thêm ba lần, Ca Diếp cũng múa vũ ba lần. Vua nói:
        -  Ca Diếp múa vũ như thế, há chẳng phải tập khí sao?
 
      
Phật nói:
        -  Ca Diếp thật chẳng múa vũ.
 
     
Vua nói:
       - Sao Thế Tôn lại vọng ngữ?
 
    
Phật nói: 
       - Không vọng ngữ. Lúc ngươi đàn thì sơn hà đại địa, gỗ đá đều phát ra tiếng đàn phải chăng?
 
     
Vua nói:
       - Phải.
 
    
Phật nói:
       - Thì Ca Diếp cũng như thế. Cho nên nói thật chẳng múa vũ.
 
    
Vua mới tín thọ.

 ٭

    Thế Tôn ở cõi trời thứ sáu thuyết Đại Tập Kinh. Vua cõi trời ấy kêu khắp cõi người, cõi trời, tất cả ác quỷ, thần đều nên tập hội thọ sự phó chúc của Phật để ủng hộ chánh pháp. Nếu có ai không đến thì Tứ Thiên Môn Vương sẽ đem bánh xe sắt nóng bắt họ tập trung. Sau khi tập hội xong, ai cũng vâng lời Phật dạy, mỗi mỗi tự phát hoằng thệ ủng hộ chánh pháp. Chỉ có một ma vương nói với Phật rằng:
     -  “Cồ Đàm! Con đợi tất cả chúng sanh thành Phật hết, cõi chúng sanh đã không, chẳng có tên gọi chúng sanh nữa, con mới phát Bồ đề tâm”.

٭

   Đề Bà Đạt Đa phỉ báng Phật, nên ngay cái thân đang sống mà đã bị đọa địa ngục. 
   
Phật bảo A Nan đi hỏi:
              - Ngươi ở trong địa ngục có yên không?
 
   
Đáp:
             - Tôi dù ở địa ngục nhưng vui như cõi trời Tam thiền.
 
   
Phật lại sai A Nan hỏi nữa:
             - Ngươi muốn cầu ra không?
 
   
Đáp:
             - Tôi đợi Thế Tôn đến mới ra.
 
   
A Nan nói:
             - Phật là Đạo sư tam giới, há có phần vào địa ngục ư?
 
   
Đề Bà nói:
             - Phật đã không có phần vào địa ngục thì tôi há có phần ra địa ngục ư !

 ٭

   Văn Thù bỗng khởi Pháp Kiến, Phật Kiến, bị sức oai thần của Thế Tôn đày đi núi Nhị Thiết Vi.

 ٭

    Trên hội Linh Sơn có năm Tỳ kheo đắc định Tứ Thiền, đủ năm thần thông mà chưa đắc Pháp nhãn. Mỗi vị dùng thần thông Túc mạng tri thì đều tự thấy giết cha hại mẹ và phạm những tội nặng. Do đó mỗi người trong tâm tự hoài nghi, thành ra đối với pháp thâm sâu chẳng thể chứng nhập. Lúc ấy, Văn Thù thừa oai thần lực của Phật, tay cầm kiếm bén bức bách Như Lai. 
    
Thế Tôn nói với Văn Thù rằng:
      -  Ngưng ! Ngưng ! Chớ nên hại ta mà tạo tội ngũ nghịch. Nhưng nhất quyết hại ta thì phải khéo hại cái ngã chấp của ta. Văn Thù Sư Lợi! Ngươi từ xưa nay chẳng có ngã nhân (ta và người), chỉ vì nội tâm thấy có ngã nhân. Khi nội tâm chẳng khởi, thì ngã nhân ắt phải diệt, tức gọi là hại cái ngã chấp của ta.
 
    
Do đó, năm trăm Tỳ kheo tự ngộ bản tâm như mộng như huyễn. Ở trong mộng huyễn chẳng có ngã nhân, cho đến năng sanh sở sanh, cha mẹ đều như mộng huyễn, chẳng có ngã nhân. Rồi năm trăm Tỳ kheo cùng nói kệ tán thán rằng: 
                      
Văn Thù bậc đại trí,
                           
Thấu đạt nguồn đáy pháp.
                           
Tự tay cầm kiếm bén,
                           
Bức bách thân Như Lai.
                            
Kiếm vậy, Phật cũng vậy,
                           
Một tướng chẳng có hai.
                           
Vô tướng vô sở sanh,
                           
Đâu thể nói giết hại.
                           
Ngã nhân đã không có,
                           
Thì còn ai tạo tội.

 ٭    

    Ngoại đạo hỏi Phật:
       - Không hỏi có lời, không hỏi chẳng lời?

     Thế Tôn im lặng giây lâu. 
   
Ngoại đạo tán thán rằng: 
      - “Thế Tôn đại từ đại bi khai phá đám mây mê muội cho con khiến con được ngộ nhập”.
    Rồi đảnh lễ ra đi.
 
  
A Nan bạch Phật:
     - Ngoại đạo đắc đạo lý gì mà tán thán như vậy?
 
 
Thế Tôn nói: 
    -  Như con tuấn mã ở thế gian, thấy bóng roi liền chạy nhanh.

 ٭

  Vua Ba Tư Nặc hỏi Phật:
     - Trong Thắng nghĩa đế có Thế tục đế chăng ? Nếu nói không thì trí chẳng nên hai, nếu nói có thì trí chẳng nên một. Cái nghĩa của một hai ấy là thế nào ?
 
  
Phật nói:
        - Đại Vương ! Ông ở kiếp Long Quang Phật trong quá khứ từng hỏi nghĩa này. Nay ta vô thuyết, nay ông vô thính, vô thuyết vô thính ấy là nghĩa một hay nghĩa hai?

٭

     Ngoại đạo hỏi Phật:
      - Hôm qua thuyết pháp gì?
 
    
Phật nói:
      - Thuyết pháp nhất định.
 
    
Ngoại đạo lại hỏi:
      - Hôm nay thuyết pháp gì?
 
     
Phật nói:
       - Pháp chẳng định.
 
     
Ngoại đạo nói:
       - Tại sao hôm qua thuyết pháp nhất định, nay lại thuyết pháp chẳng định?
 
     
Phật nói:
       - Hôm qua “định”, hôm nay “chẳng định”.

٭

        Ngoại đạo hỏi Phật:
         - Các pháp là thường ư?
 
     
Phật không đáp. 
     
Lại hỏi:
         - Các pháp vô thường ư?
 
    
Phật cũng không đáp. 
    
Ngoại đạo nói:
         - Thế Tôn là bậc đầy đủ tất cả trí huệ, tại sao không đáp?
 
     
Phật nói:
         - Vì các câu hỏi của ngươi đều là hý luận.

٭

     Lúc Phật đang ngồi dưới gốc cây Nê-cô-luật thì có hai thương gia hỏi Phật:
      -  Có thấy xe qua không?
 
    
Đáp:
      -  Chẳng thấy.
 
    
Hỏi:
     - Có nghe tiếng xe không?

       
Đáp: Chẳng nghe.
       
Hỏi: Phải đang thiền định không?
       
Đáp: Chẳng thiền định.
       
Hỏi: Phải đang ngủ không?
       
Đáp: Không ngủ.
       
Người thương gia tán thán rằng: Lành thay! Lành thay! Thế Tôn đại giác nên chẳng thấy nghe.

٭

     Có một Phạn Chí Móng Tay Dài xin biện luận nghĩa lý với Phật, giao ước trước rằng: 
         - Nếu tôi thua thì sẽ tự chém đầu để tạ lỗi.
 
   
Thế Tôn hỏi:
           - Nghĩa lý của ngươi lấy gì làm tôn chỉ?
 
   
Phạn Chí nói: 
          - Tôi lấy “tất cả đều chẳng thọ nhận” làm tôn chỉ.
 
  
Phật nói:
           -  Tôn chỉ này ngươi thọ nhận chăng?
 
   
Phạn Chí quay đầu bỏ đi, giữa đường chợt tĩnh ngộ, than rằng:
          -  “Nghĩa lý của ta có hai chỗ thua. Tại sao? Nếu nói thọ nhận thì chỗ thua là thô (lớn), nếu nói chẳng thọ nhận thì chỗ thua là tế (nhỏ). Tất cả trời, người và Nhị thừa đều chẳng biết cái nghĩa lý chỗ thua của ta, chỉ có Thế Tôn với các Đại Bồ tát mới biết”.
     Nghĩ thế, ông liền trở về trước Phật nói:
           - “Nghĩa lý tôi có hai chỗ thua nên xin tự chém đầu để tạ lỗi”.
 
   
Phật nói:
           - Trong pháp ta chẳng có việc này. Ngươi biết quấy thì nên hồi tâm hướng đạo.
 
  
Do đó Phạn Chí cùng năm trăm đệ tử đồng thời theo Phật xuất gia, sau này đều chứng quả A la hán.

٭

     Một hôm Thế Tôn đang ngồi thấy hai người khiêng con heo đi ngang, Phật hỏi: 
         - Cái đó là gì? 
 
  
Họ nói:
          -  Phật có đầy đủ trí huệ lại không biết con heo sao?
 
   
Phật đáp:
          - Cũng nên hỏi qua vậy.
 

*

     Phật ở hội Linh sơn “niêm hoa thị chúng”. Lúc ấy chúng đều im lặng, chỉ một mình Tôn giả Ca Diếp mỉm cười.
      Thế Tôn nói:
     -  “Ta có Chánh pháp nhãn tạng (từ nghi đến ngộ), Niết bàn diệu tâm, Thực tướng vô tướng, Pháp môn vi diệu, Bất lập văn tự, Giáo ngoại biệt truyền, nay phó chúc cho Ma Ha Ca Diếp”.
 
   
Rồi Thế Tôn đến trước tháp Đa Tử bảo Ma Ha Ca Diếp ngồi kế cạnh, dùng Tăng già lê (áo cà sa) quàng lên thân Ca Diếp và bảo rằng:
       - “Ta đem chánh pháp nhãn tạng mật phó cho ngươi, ngươi nên hộ trì”.
      Rồi bảo A Nan làm phó, giúp Ca Diếp hoằng hóa, chớ cho đoạn tuyệt.              
       
Xong Phật thuyết kệ rằng:
 
                     
Bản pháp vốn vô pháp,
                           
Vô pháp cũng là pháp.
                          
Nay phó chúc vô pháp,
                          
Pháp pháp đâu từng pháp. 
    T
hế Tôn thuyết kệ xong lại bảo Ca Diếp:
        -  “Ta đem áo Kim Lan Tăng già lê truyền phó cho ngươi để chuyển trao cho Phật vị lai”.
(Nay Ca Diếp đang nhập định tại núi Kê Túc tỉnh Vân
Nam, Trung Quốc chờ ngày Phật Di Lặc ra đời). 
    
Ca Diếp nghe kệ xong đảnh lễ chân Phật, tán thán rằng: Lành thay ! Lành thay ! Con sẽ vâng lời Phật. 

*


   
Thế Tôn sắp nhập Niết bàn, Văn Thù thỉnh Phật tái Chuyển pháp luân. Thế Tôn quở rằng: 
     - Văn Thù ! Ta bốn mươi chín năm trụ thế chưa từng thuyết một chữ. Nay ngươi thỉnh ta tái Chuyển pháp luân, vậy cho ta đã từng Chuyển pháp luân sao ?

٭

      Thế Tôn ở trong hội Niết Bàn tay đặt trên ngực bảo chúng rằng:
      -  “Đại chúng hãy khéo quán xét cái thân vàng này, chiêm ngưỡng cho đủ, chớ nên hối tiếc. Nếu nói ta diệt độ thì chẳng phải đệ tử của ta. Nếu nói ta chẳng diệt độ thì cũng chẳng phải đệ tử của ta”.
      Khi ấy cả triệu ức chúng thảy đều khế ngộ.

٭

      Lúc bấy giờ Thế Tôn đến thành Câu Thi La bảo đại chúng rằng: “Nay ta đau lưng muốn nhập Niết bàn”. Rồi Ngài đi bộ đến gần bờ sông Ni Liên, giữa hai cây Sa La, nằm nghiêng phía mặt im lặng thị tịch. Sau đó Ngài lại từ trong quan tài ngồi dậy vì mẹ thuyết pháp, lại đặc biệt đưa ra hai chân để hóa độ Kỳ Bà và thuyết kệ vô thường rằng: 
                    
Chư hạnh vô thường là pháp sanh diệt,
                       
Sanh diệt diệt rồi, tịch diệt làm vui. 
    L
úc ấy các đệ tử dành nhau đem trầm hương thiêu đốt quan tài. Sau khi lửa tàn, quan tài vẫn còn nguyên. Đại chúng thấy vậy, ngay trước Phật tán kệ rằng: 
                   
Vật phàm dù cháy bừng,
                       
Đâu thể thiêu thân Thánh.
                       
Xin thỉnh lửa Tam muội,
                       
Để thiêu sắc thân vàng. 
   
Lúc bấy giờ, quan tài tự nhảy lên cao bằng cây Sa la, rồi lên xuống bảy lần như vậy trên không xong hóa ra lửa Tam muội, trong chốc lát biến thành tro, có cả thảy tám giạ bốn đấu xá lợi. Hôm đó, nhầm ngày 15 tháng 2 năm Nhâm Thân, tức năm thứ năm mươi hai đời vua Chiêu Mục Vương. Một ngàn bảy trăm năm sau khi Thế Tôn nhập diệt, giáo pháp được truyền sang Trung Quốc, tức nhằm năm thứ 10 niên hiệu Vĩnh Bình đời Hậu Hán (năm 67 sau Tây Lịch).
      Ngày Thế Tôn nhập Niết bàn, Ngài Ca Diếp là người đến sau cùng, Thế Tôn thò hai chân từ trong quan tài ra thị hiện cho Ca Diếp xem.

٭     

CÔNG ÁN TRÍCH TRONG KINH LĂNG GIÀ 


   
Một hôm Thế Luận Bà La Môn hỏi Phật rằng:
           -  Cồ Đàm! Tất cả là sở tác ư?
 
   
Phật nói:
           -  Bà La Môn! Nói có sở tác là thế luận một.
 
   
Hỏi:
           - Tất cả chẳng phải sở tác ư?
 
   
Đáp:
           - Tất cả chẳng phải sở tác là thế luận hai.
 
   
Hỏi: 
           - Tất cả thường ư? Tất cả vô thường ư? Tất cả sanh ư? Tất cả bất sanh ư?
 
   
Đáp:
           - Ấy là thế luận ba, bốn, năm, sáu.
 
   
Hỏi:
           - Tất cả một ư? Tất cả khác ư? Tất cả đủ ư? Tất cả chẳng đủ ư? Tất cả đều do mỗi mỗi nhân duyên mà thọ sanh ư? 
 
   
Đáp:
            - Ấy là thế luận bảy đến mười một.
 
   
Hỏi:
            - Tất cả vô ký (chẳng thiện chẳng ác) ư? Tất cả ký (hoặc thiện hoặc ác) ư? Hữu ngã ư? Vô ngã ư? Có kiếp này ư? Chẳng kiếp này ư? Có các kiếp khác ư? Chẳng kiếp khác ư? Có giải thoát ư? Chẳng giải thoát ư? Tất cả là sát na ư? Tất cả không sát na ư? Là hư không ư? Là chẳng phải hư không ư? Cồ Đàm! Có năng tác ư? Chẳng có năng tác ư? Có trung ấm ư? Chẳng có trung ấm ư? 
 
   
Đáp:
           - Bà La Môn! Những câu hỏi như thế đều là thế luận, chẳng phải sở thuyết của ta. (4)

(4) Năng sở: Năng là chủ động, sở là bị động.
Thí dụ: Năng lễ, sở lễ thì năng là thân, sở lễ là Phật. Mắt là năng thấy, vật là sở thấy; tai là năng nghe, âm thanh là sở nghe.