CÔNG ÁN PHẬT THÍCH CA (I)

CÔNG ÁN CỦA PHẬT THÍCH CA
(Trích trong Chỉ Nguyệt Lục)

 

     Một hôm Thế Tôn thăng tòa, đại chúng tụ tập xong, Văn Thù đánh dùi bạch chúng rằng:
      - “Xem kỹ của pháp vương. Pháp của Pháp vương là như thế!”
 
    
Thế Tôn liền xuống tòa.

*

      Một hôm Thế Tôn thăng tòa, ngồi im lặng. A Nan bạch dùi (dùng dùi đánh chuông) rằng:
      - “Xin Thế Tôn thuyết pháp.”
 
    T
hế Tôn nói:
      - “Trong hội có hai Tỳ kheo phạm luật nên chẳng thuyết pháp.”

     A Nan dùng tha tâm thông quán biết hai Tỳ kheo đó rồi đuổi ra. Thế Tôn vẫn còn im lặng, A Nan bạch nữa:
     - “Hai Tỳ kheo phạm giới đã bị đuổi ra rồi, sao Thế Tôn vẫn không thuyết pháp?”
 
   
Thế Tôn nói: 
     - “Ta chẳng vì Thanh văn Nhị thừa thuyết pháp.”
 
    
Rồi xuống tòa.

 ٭

   Một hôm Thế Tôn thăng tòa. Ca Diếp bạch dùi rằng:
     - “Thế Tôn đã thuyết pháp xong”.
 
   
Thế Tôn liền xuống tòa.

٭

  Thế Tôn lên cõi trời Đao Lợi vì mẹ thuyết pháp, Ưu Thiên Vương nhớ Phật, sai thợ điêu khắc, khắc tượng Phật bằng gỗ Chiên Đàn. Khi Thế Tôn từ trời Đao Lợi xuống, tượng cũng ra nghênh tiếp. Thế Tôn gọi ba lần, tượng cũng đáp lại ba lần. Thế Tôn nói:
    - “Vô vi chân Phật thật ở thân ta”.
    Vậy ở thân nào?

    Thế Tôn ở cõi trời Đao Lợi chín mươi ngày, rồi từ giã cõi trời đi xuống. Tứ chúng bát bộ đều đi nghênh tiếp. Có Tỳ kheo ni Liên Hoa Sắc nghĩ rằng: Tôi là người Ni ắt phải xếp hàng sau lưng các đại Tăng khi gặp Phật. Chi bằng dùng thần lực biến thành Chuyển Luân Thánh Vương có ngàn con hộ vệ để được gặp Phật trước mọi người. 
  
Thế Tôn vừa thấy liền quở rằng:
    -  “Liên Hoa Sắc! Ngươi đâu thể qua mặt các đại Tăng mà gặp ta. Ngươi dù thấy sắc thân ta nhưng chẳng thấy Pháp thân ta. Tu Bồ Đề tuy tĩnh tọa trong hang lại được thấy Pháp thân ta”.

*

   Thế Tôn đem hạt châu Ma Ni Tùy Sắc hỏi Ngũ Phương Thiên Vương:
  
- Hạt châu này màu gì? 
  
Khi ấy Ngũ Phương Thiên Vương mỗi người đều lần lượt nói ra màu sắc do mình thấy. Thế Tôn giấu hạt châu rồi giơ tay hỏi:
   - “Hạt châu màu màu gì?”
 
  
Ngũ Phương Thiên Vương nói:  
   - “Trong tay Phật không có hạt châu, vậy đâu có màu gì?”
 
 
Thế Tôn nói:
   - “Các ngươi sao mê muội điên đảo quá, Ta đem hạt châu thế gian cho xem thì nói có xanh, vàng, đỏ, trắng. Ta thị hiện hạt châu chân thật lại chẳng biết gì cả.”
 
  
Ngay khi ấy Ngũ Phương Thiên Vương đều tự ngộ đạo.

 ٭

   Thế Tôn thăng tòa, có một Phạn Chí (3) cúng dường hoa ngô đồng. 
   
Phật bảo:
     - Buông xuống đi!
 
  
Phạn Chí buông hoa bên tay trái xuống. 
  
Phật bảo tiếp:
    - Buông xuống đi!
 
  
Phạn Chí buông hoa còn lại bên tay mặt xuống. 
  
Phật lại bảo:
    - Buông xuống đi!
 
  
Phạn Chí nói:
     - Nay hai tay con đã không còn gì, sao Phật còn bảo buông cái gì xuống nữa?
 
  
Phật nói:
    - Chẳng phải ta bảo ngươi bỏ hoa. Ngươi phải buông xả ngoài lục trần, trong lục căn, giữa lục thức, nhất thời xả hết đến chỗ không còn gì để xả.
    Ấy chính là buông thân xả mạng của ngươi.
 
   
Phạn Chí ngay đó ngộ vô sanh nhẫn.

Chú thích :
 
(3) Phạn Chí dịch nghĩa là Tịnh Duệ (con cháu của dòng thanh tịnh), tự xưng tổ tiên của họ được sanh từ miệng của Phạn Thiên (vua cõi trời) nên lấy họ Phạn, cùng thuộc phái Bà La Môn. Chỉ ở Ấn Độ mới có nên người đời gọi là Ấn Độ giáo. Họ có kinh điển riêng, đời đời kế thừa nhau làm nghề nghiệp. Kẻ tại gia hoặc xuất gia đều ỷ vào kinh điển của họ cho là hay nhất, nên thành ra ngạo mạn, phần nhiều hay tranh biện. Họ cho Phạn Thiên là tác giả của vũ trụ, ấy là Thần ngã. 

*

    Phổ Nhãn bồ tát muốn gặp Phổ Hiền mà không được, cho đến nhập định ba lần, quán khắp Tam Thiên Đại Thiên thế giới tìm Phổ Hiền cũng chẳng thể thấy, liền đến bạch Phật, Phật nói:
    - “Ngươi hãy ở nơi Tịnh Tam Muội khởi niệm liền thấy Phổ Hiền.”
 
   
Phổ Nhãn vâng lời vừa khởi một niệm thì thấy Phổ Hiền cỡi voi trắng sáu ngà từ trên trời đến.

٭

   Ngũ Thông Tiên Nhân hỏi Phật:
                - Thế Tôn có lục thông, con có ngũ thông. Thế nào là một thông kia?
 
   
Phật gọi:
                - Ngũ Thông Tiên Nhân!
 
   
Tiên Nhân:
                 - Dạ!
 
   
Phật nói:
                - Thế nào là “một thông kia” ngươi đã hỏi ta?

* 

     Một hôm Thế Tôn bảo A Nan:
              - Sắp tới giờ ăn, ngươi phải cầm bát vào thành khất thực.
 
   
A Nan:
             -  Dạ.
 
  
Thế Tôn nói:
             - Ngươi đi bình bát phải đi theo nghi thức quá khứ của bảy Phật.
 
   
A Nan hỏi:
             - Thế nào là nghi thức của bảy Phật?
   Thế Tôn gọi:
             -  A
Nan! 
   
A Nan:
             - Dạ.
 
  
Thế Tôn nói:
             - Cầm bình bát đi đi !

*

     Có Tỳ kheo hỏi Phật:
                - Con đối với Phật pháp chỗ thấy thì có, chỗ chứng thì chưa phải. Thế Tôn làm sao khai thị?
 
    
Thế Tôn nói:
                - Tỳ kheo ! Ông ta làm sao khai thị. Câu hỏi này là ngươi.

      Thế Tôn cùng Kỳ Bà thấy một cái mả trong đó có năm bộ xương. Vì Kỳ Bà rất khéo phân biệt âm thanh nên Thế Tôn gõ vào một bộ hỏi Kỳ Bà:
            - Cái này đã sanh chỗ nào?
 
     
Đáp:
            - Sanh cõi người.
 
     
Phật gõ bộ khác hỏi:
           -  Sanh chỗ nào?
 
     
Đáp:
            - Sanh cõi trời.
 
     
Rồi Phật gõ bộ khác nữa, hỏi:
            - Sanh chỗ nào?
 
     
Kỳ Bà chẳng biết chỗ sanh.

       Bảy hiền nữ đi dạo vườn Thi Đà, một người chỉ thi hài nói:
            - Thi hài ở đây, người đi chỗ nào?
 
     
Một hiền nữ khác nói:
            - Làm sao! Làm sao!
 
    
Các hiền nữ cùng quán kỹ, mỗi mỗi khế ngộ. 
    
Việc này cảm thông được Đế Thích. Đế Thích đến rải hoa rằng:
          -
 Các Thánh tỷ có cần gì, tôi sẽ cung cấp suốt đời. 
    
Một hiền nữ nói:
         - Nhà tôi tứ sự (ăn, mặc, ngọa cụ, y dược) thất bảo thảy đều đầy đủ. Chỉ cần ba món đồ “một là cần cái cây chẳng có gốc, hai là cần miếng đất chẳng âm dương, ba là cần một thung lũng có tiếng kêu mà chẳng âm vang”.
 
     
Đế Thích nói:
           
- Tất cả đồ cần dùng tôi đều có. Đối với ba món này tôi thực không có. 
    
Hiền nữ nói:
           - Nếu ông không có làm sao mà biết giúp người?
 
     
Đế Thích chưng hửng. Rồi tất cả cùng đi bạch Phật. 
     
Phật bảo:
          - Kiều Thi Ca (tên của Đế Thích) ! Các đệ tử đại A la hán của ta, chẳng hiểu nghĩa này, chỉ có các đại Bồ tát mới hiểu nghĩa này.

 ٭

        Xưa kia Thế Tôn tu hành nơi nhân địa rũ tóc ra che lên đất sình, dâng hoa cúng dường Phật Nhiên Đăng. Phật Nhiên Đăng chỉ chỗ đất trải đất đó nói:
         - Miếng đất này nên lập một ngôi chùa.
 
     
Khi ấy trong chúng có một trưởng giả đem cây nêu cắm ngay chỗ đó rằng:
         - Kiến lập ngôi chùa xong!
 
     
Bấy giờ chư Thiên cùng nhau rải hoa tán thán.

 ٭

       Thế Tôn cùng A Nan đang đi trên đường thấy một cái tháp của Phật xưa. Thế Tôn liền đảnh lễ. 
    
A Nan nói:
          -  Đây là tháp của người nào?
 
     
Thế Tôn nói:
         - Tháp của chư Phật quá khứ.
 
     
A Nan hỏi:
         - 
Chư Phật quá khứ là đệ tử của ai? 
      
Thế Tôn nói:
        - Là đệ tử của ta.
 
    
A Nan nói:
       - Phải nên như thế.

 ٭

   Ngày giải hạ tự tứ (tự kiểm thảo), vì ngài Văn Thù nhập hạ ở ba chỗ nên ngài Ca Diếp muốn bạch dùi (đánh chuông) đuổi ra. Vừa cầm dùi thì thấy năm trăm ngàn muôn ức Văn Thù, Ca Diếp dùng hết thần lực của mình mà vẫn không giơ dùi lên được.
    Thế Tôn hỏi Ca Diếp:
          -  Ngươi muốn đuổi Văn Thù sao?

    Ca Diếp chẳng trả lời.

 ٭

    Ở cửa Đông thành La Phiệt, có một bà già cùng sanh một ngày với Phật mà không muốn gặp Phật. Mỗi khi thấy Phật đến liền trốn tránh. Mặc dù như thế nhưng nhìn qua nhìn lại bên Đông bên Tây đều thấy Phật, rồi dùng tay che mặt thì cả mười ngón tay, cho đến bàn tay, thảy đều thấy Phật.

٭

    Văn Thù đến chỗ hội trường của chư Phật nằm lúc tất cả chư Phật đều trở về bổn xứ. Chỉ có một người nữ ngồi gần tòa Phật đang nhập định. 
   
Văn Thù bạch Phật rằng:
       - Tại sao người này được gần bên cạnh Phật, mà con thì không được?
 
    
Phật bảo Văn Thù:
       -  Ngươi muốn biết phải khiến cho người nữ này xuất định rồi tự hỏi cô ta.
 
    
Văn Thù nhiễu quanh người nữ ba vòng, búng ngón tay một cái không thấy xuất định, cho đến đưa tới Phạn Thiên dùng hết cả thần lực cũng không thấy xuất định. 
    
Thế Tôn nói:
      - Giả sử bá thiên ức Văn Thù cũng chẳng thể khiến người nữ này xuất định được. Ở phương dưới đi qua bốn mươi hai hằng hà sa số quốc độ có Bồ tát Võng Minh mới khiến người nữ này xuất định được.
 
    
Một lúc sau Đại sĩ Võng Minh từ dưới đất vọt lên đảnh lễ Thế Tôn. 
    T
hế Tôn bảo Võng Minh: 
       - Hãy khiến người nữ này xuất định.
 
    
Võng Minh đi đến trước mặt người nữ búng ngón tay một cái thì người nữ xuất định liền.

٭