NGỮ VỰNG PHẬT HỌC ( 51 - 100 )

DANH TỪ THIỀN HỌC 

NGỮ VỰNG PHẬT HỌC (51 - 100)

   51.  ĐẠI ĐỨC : Tiếng xưng hô người tu hành có đức hạnh cao siêu. 

   52.  ĐẠI THỪA : Dụ cho xe lớn chở được nhiều người. Kinh Đại thừa liễu nghĩa phá trừ tất cả chấp trước, cuối cùng chứng được Tam Không (Nhân không, Pháp không, Không không) thẳng đều đến Đẳng giác, Diệu giác cũng gọi là Bồ Tát Thừa.     

   53.  ĐẠI Ý PHẬT PHÁP : Tác dụng của Phật pháp là muốn phát minh thể dụng của tự tánh, đại ý chẳng ngoài hai chữ “lập” và “phá”. Nhân thừa, Thiên thừa thì chỉ lập mà chẳng phá; Đại thừa, Tiểu thừa thì có lập có phá; Tối Thượng Thừa thì chỉ có phá chẳng lập. Lập là kiến lập tất cả giả danh, phá là phá trừ tri kiến chấp thật.     

   54.  ĐÁY THÙNG SƠN ĐEN : Dụ cho hầm sâu vô minh. “Nói thùng sơn lủng đáy” là dụ cho phá được vô minh, tức là khai ngộ.

   55.  ĐẲNG GIÁC : Giác ngộ cái bản thể, về lý thì bằng Phật, còn về sự thì chưa bằng Phật.

   56.  ĐỀ HỒ : Đề hồ thượng vị là thức ăn người đời rất quý, dụ cho diệu pháp cao tột không gì hơn. Nhưng nếu gặp những kẻ tà kiến điên đảo chẳng rõ cái thượng vị đó mà đem dùng bậy thì lại trở thành thuốc độc hại người.

    57.  ĐỊA NGỤC : Là chỗ ở của người tội phạm, chỉ thọ khổ chẳng thọ vui, tội càng lớn thì mạng sống càng lâu.

     58.  ĐIÊN ĐẢO TƯỞNG : Phàm phu ở nơi Thế lưu bố tưởng sanh ra trước tưởng gọi là điên đảo tưởng. Bậc thánh chỉ có Thế lưu bố tưởng chẳng có trước tưởng, nên không gọi là điên đảo tưởng. Có điên đảo tưởng là có phiền não, không có điên đảo tưởng thì không có phiền não.

    59.  ĐÔNG SƠN PHÁP MÔN : Vì Ngũ Tổ hoằng pháp thiền tại Đông Sơn, nên các tồng lâm dùng hai chữ Đông Sơn để ám chỉ pháp môn của  Ngũ Tổ dạy, nên gọi là pháp môn Đông Sơn.

     60. ĐỐN GIÁO : Là giáo pháp của Thiền Tông do phát khởi nghi tình mà đạt đến đốn ngộ, cũng gọi là pháp thiền trực tiếp, nay gọi là Tổ Sư Thiền.

     61. ĐỒNG NƠI SANH CHẲNG ĐỒNG NƠI TỬ : Phật tánh đồng mà chỗ ngộ chẳng đồng, như tiểu tử tiểu hoạt và đại tử đại hoạt chẳng đồng. Nhưng có khi chư Tổ nói như thế làm phương tiện để khiến thiền giả phát khởi nghi tình mà thôi.

     62. ĐƯƠNG CƠ : Thích ứng với căn cơ trình độ của chúng sanh gọi là đương cơ. Cũng gọi là khế cơ.

     63. ĐƯƠNG THỂ TỨC KHÔNG : Lục căn tiếp xúc lục trần sanh ra lục thức, ngay đó biết được vốn là vô thủy vô sanh, vốn tự không tịch, chẳng phải cảnh trần diệt rồi mới không, ngay khi thấy sự vật đó vốn là không, gọi là đương thể tức không.

     64.GIA PHONG : Cái tác phong khác biệt của các tông phái dùng để độ người.

     65.GIẢI NGỘ : Qua bộ óc nghiên cứu tư duy, hoát nhiên thông suốt nghĩa lý gọi là giải ngộ.

     66. GIẢI THOÁT : Phàm tất cả cảm thọ có thể ảnh hưởng sự khổ vui của thân tâm đều được giải tỏa mà đạt đến chỗ sanh tử tự do, chẳng bị thời gian không gian hạn chế, mới là chân giải thoát.

     67. GIẾT PHẬT : Ngài Lâm Tế nói: “Gặp Phật giết Phật”, là muốn phá trừ cái kiến giải chấp Phật của đương cơ, nghĩa là chẳng trụ nơi Phật.

     68. GIỚI ĐỊNH HUỆ : Giới là hành vi trong cuộc sống hằng ngày nên tuân theo: về chỉ trì việc ác chớ nên làm, về tác trì thì việc thiện nên phụng hành. Định là tâm địa chẳng loạn thì mới thấy khinh an. Huệ là tâm địa chẳng si thì phát ra ứng dụng. Nói chung gọi là tam Vô lậu học.

     69. HẢI ẤN TAM MUỘI : Hải ấn là hải thượng ấn văn (Nghĩa là do ánh sáng mặt trời chiếu trên thành phố phản xạ lại hiện trên mặt biển, người hàng hải thường gặp thấy thành phố trên mặt biển nhưng đến gần thì không thấy nữa), để dụ cho sức dụng biến hóa vô biên của tự tánh. Cái chánh định được hiển bày sức dụng này gọi là Hải Ấn Tam Muội.

     70.  HÀN LU TRỤC KHỐI, SƯ TỬ GIẢO NHÂN (Hàn lu là con chó mực rất thông minh của nước Hàn vào thời Xuân Thu Trung Quốc) : Có người quăng cục xương, con chó đuổi theo cục xương mà cắn, sư tử thì phát hiện người quăng cục xương mà cắn ngay người đó. Người đó dụ cho tự tánh, cục xương dụ cho lời nói của chư Phật chư Tổ. Nếu hướng vào lời nói lãnh hội là con chó, hướng vào tự tánh lãnh hội mới là con sư tử.

     71. HÀNH CƯỚC : Ngày xưa người tu hành đi bộ đến các nơi tham vấn gọi là hành cước.

     72. HẠNH ĐẦU ĐÀ : Dịch là khổ hạnh. Người tu hành tự nguyện sống theo cuộc sống gian nan khổ nhọc để mài dũa thân tâm, muốn nhờ hạnh này để giải thoát tất cả khổ, nói là dùng khổ để trừ khổ, gọi là khổ hạnh.

     73.  HIỆN LƯỢNG : Người tu chánh pháp được chứng ngộ, hiển hiện bản thể đầy khắp không gian thời gian, cái thực tướng này gọi là Hiện lượng, cái dụng gọi là Hiện lượng trí.

      74. HÓA NGHI TỨ GIÁO : Bốn giáo pháp mà Phật dùng để giáo hóa chúng sanh tùy theo cơ nghi. 1.Đốn giáo: Vì kẻ thượng căn thuyết pháp đốn tu đốn chứng, gọi là Đốn giáo; 2.Tiệm giáo: Vì kẻ trung, hạ căn thuyết pháp từ cạn vào sâu từng lớp tiến lên, gọi  là Tiệm giáo; 3. Bí mật giáo: dùng sức trí huệ bất khả tư nghì (Bát nhã) khiến người nghe mỗi mỗi tự lãnh hội mà chẵng biết với nhau, gọi là Mật giáo; 4. Bất định giáo: dùng sức Bát nhã khiến người nghe được hiểu khác nhau, chứng quả chẳng đồng, hoặc nghe tiểu pháp mà đắc đại quả, hoặc nghe đại pháp mà đắc tiểu quả, gọi là Bất định giáo. Tứ giáo này là những nghi thức của Phật dùng để giáo hóa chúng sanh, nên gọi là Hóa nghi.

     75. HÓA PHÁP TỨ GIÁO : Bốn loại giáo pháp mà đức Phật thường thuyết giảng. 1.Tam tạng giáo: Bao gồm tam tạng: Kinh, Luật, Luận; 2.Thông giáo: là pháp cộng thông của Tam thừa; 3.Biệt giáo: là pháp riêng biệt chỉ đối với một thừa; 4.Viên giáo: Đối với người tối thượng căn thuyết pháp viên dung. Tứ giáo này là pháp môn của Phật để giáo hóa chúng sanh, nên gọi là hóa pháp.

     76. HÓA THÀNH : Thanh Văn, Duyên Giác ưa pháp Tiểu thừa, chẳng tin Đại thừa nên Phật phương tiện thuyết Niết Bàn Tiểu thừa (Hóa Thành) để an ủi họ được tạm yên, rồi mới bảo bỏ Hóa Thành xu hướng Đại thừa để đạt đến Bảo Sở (quả Phật).

      77. HÒA THƯỢNG : Dịch là Thân Giáo Sư, nghĩa là Bổn sư xuống tóc cho người xuất gia trong Phật giáo gọi là Hòa Thượng.

     78. HỘT CẢI NẠP TU DI, TU DI NẠP HỘT CẢI : Hột cải rất nhỏ,Tu Di rất lớn. nơi thế giới tương đối,Tu Di nạp hột cải thì được, hột cải nạp Tu Di thì khơng được. Nhưng nếu vào cảnh giới tuyệt đối thì lớn nhỏ cĩ thể dung nạp lẫn nhau. Đây chứng tỏ sau khi ngộ rồi thì chẳng cịn phn biệt tương đối nữa.

     79.HỮU LẬU : Có tập khí phiền não là hữu lậu.

     80. HỮU TÌNH : Sinh vật có hai thứ: động vật thuộc hữu tình, thực vật thuộc vô tình. Phật nói độ chúng sanh với cấm sát sanh đều là đối với chúng sanh hữu tình mà nói.

     81. HỶ XẢ : Hỷ là tự mình hoan hỷ làm việc thiện, thấy người khác làm việc thiện cũng phát tâm tùy hỷ. Xả là xả bỏ, tất cả sự chướng ngại giải thoát của thân tâm đều xả bỏ hết.

      82. KHẾ CƠ : Sự dạy bảo khai thị của Tông sư khế hợp căn cơ, trình độ của người học là khế cơ.

      83. KHÔNG CHẤP : Phá được ngã chấp, pháp chấp rồi, thấy vũ trụ vạn vật đều không, bèn chấp cái không này cho là tất cả đều không có, gọi là không chấp.

      84.  KIỀN ĐỘ : Dịch là tụ, uẩn, kết v.v… một kiền độ tức là một bài, một chương, một phẩm, hoặc một đoạn.

      85. KIẾN HOẶC : Chấp thật cái kiến giải sai lầm là kiến hoặc.

      86. KIẾN TÁNH : Tham thiền đến chỗ cùng tột, “Ồ” lên một tiếng, trong sát na tự tánh bỗng hiện, liễu chứng các pháp vô sanh, chẳng phải có năng kiến sở kiến.

      87.  KIẾN, VĂN, GIÁC, TRI : Tức là trong lục căn: mắt chủ sự kiến, tai chủ sự văn, mũi, lưỡi và thân chủ sự giác, ý chủ sự tri (biết). Nói chung là kiến văn, giác, tri.

      88. KIẾP : Là thời gian rất dài.

      89. KIẾP HỎA THIÊU ĐÁY BIỂN, GIÓ THỔI NÚI ĐỤNG NHAU : Là hình dung bản thể của đại Niết Bàn như như bất động, kiếp hỏa chẳng thể thiêu hủy, gió bảo chẳng thể lay động.

      90. KIẾT ĐÔNG : Thiền tông ngoài kiết hạ (mùa hạ) còn có kiết đông (mùa đông) để cho hành giả tham thiền tập trung đả thiền thất suốt mùa đông.

      91. KIẾT HẠ : Theo giới luật, Tỳ kheo mỗi năm đều phải nhập hạ ba tháng, từ 15 tháng 4 đến 15 tháng 7, cấm túc không được đi ra ngoài, gọi là Kiết hạ. Khi mãn hạ phải cử hành một cuộc tự kiểm thảo liên tiếp ba ngày. Mỗi vị Tỳ kheo phải đứng ra hỏi đại chúng về kiến, văn, nghi. Về kiến nghĩa là “Có thấy tôi phạm giới?”, về văn nghĩa là “Có nghe tôi phạm giới?”, về nghi nghĩa là “Không thấy, không nghe, nhưng có lý do nghi tôi phạm giới”. Ấy gọi là tự mãn hạ tự tứ.

      92. LÌA TỨ CÚ, TUYỆT BÁCH PHI : Tứ cú là : có, không, chẳng có chẳng không, cũng có cũng không. Tất cả tư tưởng đều chẳng ra ngoài tứ cú này, nếu trụ thì chướng ngại sự dụng của bản thể tự tánh mà sanh ra bách phi (đủ thứ sai lầm), nếu lìa thì hiển bày đại dụng của tự tánh mà tuyệt bách phi.

      93. LUẬT SƯ : Tu sĩ thông suốt giới luật của nh Phật gọi l Luật sư (chẳng phải là luật sư ngoài đời).

      94.  LỤC CĂN, LỤC TRẦN, LỤC THỨC : Lục căn (nhn, nhĩ, tỹ, thiệt, thn, ý) tiếp xc với lục trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) mà sanh khởi sự phân biệt của lục thức như xấu đẹp của sắc, tiếng lớn nhỏ của âm thanh, thơm thúi của mùi, ngọt đắng của vị, lạnh nóng của xúc, sanh diệt của pháp v.v…

      95. LỤC DIỆU MÔN : 1.Số tức môn: Tức là khéo điều hòa thân tâm, sở tức (đếm hơi thở) từ một đến mười để nhiếp loạn tâm; 2. Tùy môn: tức là không miễn cưỡng tức là tùy theo hơi thở dài ngắn, lạnh ấm thảy đều biết cả; 3. Chỉ môn: tức là ngưng tâm tịch lự (lắng niệm). Tâm an nhàn, sáng sủa, trong sạch, không chút lay động; 4.Quán môn: Cần phải quán tâm rõ ràng, biết ngũ ấm là hư vọng, phá tất cả tri kiến điên đảo và chấp ngã v.v… 5.Hoàn môn: tức xoay tâm phản chiếu cái tâm năng quán, biết tâm năng quán là hư vọng chẳng thật; 6.Tịnh môn: Tâm chẳng chỗ dựa, chẳng trụ chẳng khởi, chẳng chấp trước, trống rỗng trong sạch. Y theo sáu môn này tu tập sẽ đạt đến diệu cảnh của Niết Bàn Tiểu thừa nên gọi là Lục diệu môn.

     96. LỤC HÒA KÍNH : 1.Thân hòa đồng trụ (ở); 2.Khẩu hòa vô tranh; 3.Ý hòa đồng duyệt (vui); 4.Giới hòa đồng tu; 5.Kiến hòa đồng giải (kiến giải); 6.Lục hòa đồng quân (chia đều nhau), gọi chung là Lục hòa, là quy ước căn bản của Tăng chúng cùng sống chung trong Tăng đoàn.

     97. LỤC MÔN : Tức là cửa của lục căn, Lục Tổ nói: “Lục thức ra lục môn, nơi lục trần vô nhiễm vô tạp gọi là Vô niệm”.

     98. LỤC NHÂN : Nhân đương có, nhân đương tục, nhân hình tướng, nhân tạo tác, nhân hiển thị, nhân truyền nhau.

    99. LỤC PHÁP GIỚI : Là sáu giới nên học cho mạnh thêm của Sa di Ni để tiến thọ Thức xoa. Sáu pháp là không dâm dục, không trộm cắp, không sát hại, không vọng ngữ, không ăn phi thời và học pháp bát kỉnh. 

     100. MẠT HẬU CÚ : Tức là lời nói của chư Tổ, cũng như nói: “Một câu cuối cùng (mạt hậu) mới đến lao quan (ngộ triệt để)”, để kẻ đã ngộ nghe rồi tự biết, kẻ chưa ngộ nghe rồi không hiểu thì từ đó khởi lên nghi tình để đi đến chỗ ngộ.