NGỮ VỰNG PHẬT HỌC ( 101 - 150 )

DANH TỪ THIỀN HỌC 

 

NGỮ VỰNG PHẬT HỌC (101 - 150)

101.   MẶC CHIẾU THIỀN : Dùng cái tâm năng quán im lặng (Mặc) nhìn hẳn một điểm (Sở quán) gọi là Mặc chiếu, nghĩa là yên lặng chiếu soi một chỗ. Cũng như im lặng khán chữ “vô” là lọt vào mặc chiếu tà thiền vì trụ nơi im lặng chẳng thể đạt đến nơi kiến tánh nên cũng thuộc vào thiền bệnh.

102.  MÊ TÌNH : Vì chấp thật mà mê hoặc chánh lý gọi là mê tình.

103.  MỘT CHUYỂN NGỮ : Chuyển là nghĩa vô trụ, Thiền tông khám xét người học nếu đáp được một chuyển ngữ thì được ấn chứng là ngộ.

104.  NA GIÀ ĐỊNH : Dịch là Đại định, bất cứ lúc nào nơi nào, đi đứng, ngồi nằm, động tịnh, bận rộn, rảnh rang, đều ở trong định, chẳng có xuất nhập gọi là Na già định.

105.  NĂM THỨ TÀ MẠNG : 1.Giả hiện kỳ lạ mua chuộc tín ngưỡng như tịch cốc, thần thông v.v…; 2.Tự khoe công đức, tài học; 3.Coi bói, tướng số; 4.Hùng biện hô to, nhấn mạnh oai thế; 5. Khoe được nhiều cúng dường để lấy lòng người. Đây là năm thứ để cầu lợi, nuôi sống nên gọi là tà mạng.

106.  NGÃ CHẤP : Chấp cái thân thể do tứ đại, ngũ uẩn hòa hợp này là thật Ta nên gọi là ngã chấp.

107.  NGÃ MẠN : Vì chấp thật tự ngã nên khi tiếp xúc với người khác thì tỏ ra thái độ kiêu căng gọi là ngã mạn.

108.  NGHI SÁT : Nghi là nghi tình, sát là giết chết mạng căn của sanh tử (ngộ), tức là từ nghi đến ngộ. Phương tiện của chư Tổ dùng để dẫn dắt hậu học gọi là nghi sát người thiên hạ

109.  NGHI TÌNH : Ở trong tâm đề câu thoại đầu hoặc công án, tự hỏi mà tự sanh khởi cái cảm giác không hiểu, muốn hiểu mà không hiểu nổi, cũng chẳng lọt vào tư duy, Thiền Tông gọi là nghi tình.

110.   NGHĨA SẮC KHÔNG : Chúng vi (vi trần) tụ lại gọi là SẮC, chúng vi chẳng tự tánh gọi là KHÔNG, đây là nói SẮC KHÔNG trong Nhân địa. Còn trong KHÔNG của chúng vi chẳng một vi, trong KHÔNG của một vi chẳng chúng vi, đây là sắc KHÔNG trên quả địa, cũng là cái nghĩa SẮC KHÔNG bất nhị.

111.   NGHIỆP :  Tâm khởi niệm, thân làm theo, tất cả hành vi đã làm hoặc khởi niệm mà chưa làm đều gọi là nghiệp.

112.  NGHIỆP BÁO : Tạo thiện nghiệp được phước báo, tạo ác nghiệp bị khổ báo, gọi là nghiệp báo.

113.    NGHIỆP CHƯỚNG : Bất cứ thiện nghiệp hoặc ác nghiệp đều là chướng ngại sự kiến tánh giải thoát, nên gọi là nghiệp chướng.

114.  NGHIỆP NHÂN, NGHIỆP QUẢ : Hành vi do thân tâm sở khởi, sở tác, huân nhiễm do nơi thức thứ tám thành chủng tử tức là nghiệp nhân. Gặp duyên mà hiện hành tức là nghiệp quả.

115.    NGŨ BẤT ỨNG THÍ : 1.Tài vật phi nghĩa; 2.Rượu, thuốc hút, độc dược; 3.Lưới bẫy, chày bắt; 4. Võ khí giết người; 5.Âm nhạc, nữ sắc. Đây là năm đều không nên dùng để bố thí.

116.  NGŨ ĐÌNH TÂM QUÁN : Đây là năm thứ thiền quán của thừa Thanh Văn.  1.Bất tịnh quán; 2.Từ bi quán; 3.Nhân duyên quán; 4. Lục thức quán; 5. Sở tức quán.

117.     NGŨ SUY : Năm thứ tướng suy của người cõi trời sắp chết. 1.Bông trên đầu héo tàn; 2.Quần áo nhơ bẩn; 3.Thân thể hôi thúi; 4.Nách ra mồ hôi; 5.Không ưa tòa ngồi.

118.    NGŨ UẨN : Cũng gọi là Ngũ Ấm, tức là sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Sắc là vật chất (như xương, thịt …), Thọ là cảm thọ, Tưởng là tư tưởng, Hành là hành vi và sự biến đổi, Thức là phân biệt nhận thức. Do năm thức này tổ chức thành thân tâm con người gọi là Ngũ uẩn.

119.    NGOẠI ĐẠO : Tôn giáo ngoài bổn đạo của mình gọi là ngoại đạo. Như Trí Giả Đại Sư chia làm ba thứ: 1.Chánh cống ngoại đạo, tu thành được trường thọ hoặc sanh cõi trời.  2.Gắn tên của Phật giáo mà hành pháp của ngoại đạo, tu thành cũng phải đọa địa ngục.  3.Học Phật pháp thành ngoại đạo, tức là chẳng hiểu ý Phật, đem ý mình cho là chánh pháp để dạy người, di hại người sơ học, Phật dụ là con trùng sư tử, tiêu diệt phật pháp là do bọn này.

120.   NGŨ GIA : Là năm phái thiền của Thiền tông: Lâm Tế, Tào Động, Pháp Nhãn, Vân Môn và Qui Ngưỡng.

121.   NHẬM MA : Nghĩa là cái này cái kia.

122.  NHẬM VẬN : Mặc kệ bản tánh của mọi sự mọi vật vận động tự nhiên, chẳng dính dáng đến sự tạo tác của tâm thức, gọi là nhậm vận.

123.   NHÂN DUYÊN : Nhân là bản nhân, duyên là trợ duyên. Như một hột lúa là bản nhân, nhân công, nước, đất là trợ duyên, nhân duyên hòa hợp sanh ra cây lúa.

124.  NHẤT CHÂN PHÁP GIỚI : Là biệt danh của tự tánh, cũng là quả chứng cùng tột của Tông Hoa Nghiêm

125.   NHẤT HÀNH TAM MUỘI : Trong cuộc sống hằng ngày đi, đứng, ngồi, nằm, thường hành theo trực tâm, như Lục Tổ nói: “Đối với tất cả pháp đều chẳng có chấp trước”.

126. NHẤT HỢP TƯỚNG : Thế giới do nhiều vi trần hợp thành gọi là nhất hợp tướng. Thân người do nhiều tế bào hợp thành cũng gọi là nhất hợp tướng. Tất cả vật chất đều do nhiều nguyên tử hợp thành cũng như vậy.

127.    NHẤT SIÊU TRỰC NHẬP : Hành giả tham Tổ Sư Thiền siêu việt những cấp bậc của giáo môn, trực tiếp ngộ nhập Phật tánh gọi là nhất siêu trực nhập.

128. NHẤT THIẾT NGHĨA THÀNH : Tự tánh thể “không” y “không” hiển dụng, có dụng thì nghĩa thành, nên Trung Quán Luận nói: “Dĩ hữu “KHÔNG” nghĩa cú, nhất thiết pháp đắc thành”, nghĩa là: Vì có cái nghĩa “Không” nên tất cả pháp mới được thành tựu.

129. NHẤT THỰC TƯỚNG ẤN : Thực tướng là bản thể của tự tánh. Đại thừa dụng tâm ấn này để ấn chứng hành giả đã ngộ nhập thực tướng gọi là Nhất thực tướng ấn.

130. NHẤT TƯỚNG TAM MUỘI : Nơi tất cả tướng mà chẳng trụ tướng, chẳng sanh tâm yêu ghét, lấy bỏ; chẳng nghĩ sự lợi hại, thành hoại, vô trụ vô y, gọi là Nhất tướng tam muội.

131.  NHỊ KIẾN : Chấp thật kiến giải tương đối như: hữu vô, đoạn thường, thủy chung, sanh diệt v.v… đều gọi là nhị kiến.

132. NHỊ THỪA : Duyên Giác thừa với Thanh Văn thừa hoặc gọi Trung thừa, Tiểu thừa nói chung là Nhị thừa.

133.   NHỊ TỬ : 1.Là phần đoạn sanh tử của phàm phu: từ thân này chuyển qua thân kia, như từ thân người chuyển qua thân thú. 2. Là biến dịch sanh tử của bậc thánh như: từ La Hán biến Bích Chi, từ Bích Chi biến Sơ Địa Bồ Tát, từ Sơ Địa biến Nhị Địa v.v… gọi chung là Nhị tử.

134. NHỤC THÂN BỒ TÁT : Phàm phu chứng quả Bồ Tát là nhục thân Bồ Tát, còn Văn Thù, Phổ Hiền, Quan Âm … là Pháp thân Bồ Tát.

135.  NHƯ : Như thật tế của bản thể tánh.

136. NHƯ LAI : Bản thể của tự tánh cùng khắp không gian, bất khứ bất lai, đúng như bổn lai nên gọi Như Lai.

137. NHƯ LAI QUYỀN GIÁO : Phật vì thích ứng mọi đương cơ mà thiết lập giáo pháp quyền xảo phương tiện để giáo hóa chúng sanh gọi là Như Lai quyền giáo.

138. NHƯ NHƯ BẤT ĐỘNG : Bản thể của tự tánh cùng khắp không gian thời gian, chẳng động chẳng tịnh, chẳng biến chẳng dời, chẳng sanh chẳng diệt, gọi là Như như bất động.

139. NIẾT BÀN : Bản thể của tự tánh đầy khắp thời gian, bất sanh bất diệt, chẳng quá khứ, hiện tại, vị lai, vô thủy vô chung (Hán văn dịch là viên tịch, chẳng phải là chết).

140.  NO CHẲNG ĐÓI : Cũng gọi là bảo tham (bảo là no đủ). Sau khi triệt ngộ, gốc nghi dứt hẳn chẳng còn nghi hoặc nào nữa nên nói no chẳng đói.

141. NỘI TRẦN : Sắc, thanh, hương, vị, xúc đối với ngũ căn là ngoại trần, còn pháp sanh diệt đối với ý căn là nội trần, cũng gọi là pháp trần.

142.  NÚI TU DI : Dịch là Diệu Cao Sơn, là núi lớn nhất trong vũ trụ.

143. OAI NGHI : Đi, đứng, nằm, ngồi, mặc áo, ăn uống cho đến đi  tiêu đi tiểu, đều giữ hình dáng an nhàn trang nghiêm gọi là oai nghi.

144. Ồ LÊN MỘT TIẾNG : Là hình dung cái cảm giác như điện chớp ngay lúc khai ngộ, bỗng nhiên bản thể đầy khắp không gian thời gian.

145. PHẢNG HÉT : Đức Sơn vào cửa liền phảng (đập gậy), Lâm Tế vào cửa liền hét. So với tác dụng “Niêm hoa thị chúng” của Phật Thích Ca chẳng khác. Ấy đều là dùng để cắt đứt ý thức hiện hành của đương cơ mà đạt đến mục đích “Ngay đó kiến tánh”.

146. PHÁP : Tất cả sự vật hữu tình gọi là sắc pháp, vô hình gọi là tâm pháp, có thể tánh gọi là hữu pháp, không thể tánh gọi là vô pháp. Các pháp sắc, tâm, hữu, vô gọi chung là Pháp giới.

147. PHÁP BA LA MẬT : Dịch là phương pháp để đi đến bờ bên kia. Bờ bên kia dụ cho quốc độ tự do tự tại. Pháp Ba La Mật có sáu thứ: Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ; cũng gọi là lục độ.

148.  PHÁP CHẤP : Tất cả sự vật trong vũ trụ do cảm giác tư duy của bộ óc nhận thức được đều chấp là pháp thật, gọi là pháp chấp.

149. PHÁP GIỚI : Tất cả sự vật trong vũ trụ hoặc ẩn hoặc hiển, hoặc có hoặc không, hoặc đã biết hoặc chưa biết, đều gọi là pháp, tổng danh là Pháp giới.

150. PHÁP HIỆN HÀNH CHẲNG TƯƠNG ƯNG : Chẳng phải vô hình như Tâm vương, Tâm sở, chẳng phải có hình như sắc pháp, với ba thứ pháp này chẳng tương ưng mà lại biến hóa ảo tượng trong vũ trụ, nên gọi là pháp hiện hành chẳng tương ưng, cũng như sanh, trụ, dị, diệt, mạng căn, đắc, phi đắc v.v… Tất cả mười bốn thứ.