CHÁNH VĂN (9 - 15)

9. MẠC TRỤC HỮU DUYÊN, VẬT TRỤ KHÔNG NHẪN

     Dịch : Đừng theo nơi CÓ, chớ trụ nơi KHÔNG.
     Lời khai thị :
     Vạn vật lăng xăng, con người ngu độn, lìa tướng lìa danh, có ai không hiểu. Vì sao Đạt Ma phân da phân tủy, Lâm Tế lập chủ lập tân (khách) ? Làm cho con cháu lăn lộn tìm. (Sơ Tổ Đạt Ma khám xét môn đồ, có kẻ được da, có kẻ được thịt, có kẻ được xương, cuối cùng Huệ Khả được tủy, kế làm Nhị Tổ).
     Lời nghĩa giải :
     Tổ sư nói : MẠC TRỤC HỮU DUYÊN, VẬT TRỤ KHÔNG NHẪN, người nghĩa giải cho rằng : Cả hai đều huyễn. Khởi tâm chấp trước thì thủ, xả tranh nhau, một niệm chẳng sanh, thường ở Trung đạo, tức là đạo nhân giải thoát.
     Tịch nghĩa giải :
     Tịch rằng : Sai lầm ! Đợi ngươi biết là giải thoát, đã lọt vào ngoan không rồi. Nếu là bậc ngộ tâm chơn thật thì HỮU DUYÊN và KHÔNG NHẪN há ở bên ngoài giải thoát ư !
     Kệ kết thúc :
     Kệ rằng :
          Đừng theo nơi CÓ còn là dễ,
          Chớ trụ nơi KHÔNG mới thật khó.
          Hai đầu khó dễ đều chấm dứt,
          Tổ đình y xưa chẳng dính dáng.
10. NHẤT CHNG BÌNH HOÀI, DẪN NHIÊN TỰ TẬN
     Dịch : Trọn một bình đẳng, tuyệt nhiên tự sạch.
     Lời khai thị :
     Đạo tràng chẳng động, pháp vốn vô sanh, trăng sáng thấu song cửa, gió mát đầy bình phong. Chỗ có Phật chẳng được trụ, dùng sắt gói tim đèn ; chỗ không Phật chạy mau qua, bông đẹp trải gấm lụa. Ngoài ba ngàn dặm tìm bông hái, mười phương hư không đều tiêu mất. Dễ thương lượng, khó định chuẩn, trâu đất đáy biển ăn roi sắt, bên đầu trăm cỏ gió lạnh lùng.
     Lời nghĩa giải :
     Tổ sư nói : NHẤT CHNG BÌNH HOÀI, DẪN NHIÊN TỰ TẬN, người nghĩa giải cho rằng : Tình chấp thủ xả đã sạch, tri kiến thánh phàm không nơi nương tựa, tự nhiên tất cả chỗ đều bình thường, tất cả chỗ tịch diệt.
     Tịch nghĩa giải :
     Tịch rằng : Ban ngày không ngủ, đừng có nói mớ. Như nay mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, gọi cái gì bình thường hay không bình thường ?
     Kệ kết thúc :
     Kệ rằng :
          Tuyệt nhiên sạch hết chẳng ngằn mé,
          Bên đầu trăm cỏ mở chánh nhãn.
          Sanh tử Niết bàn đều bóp nát,
          Chẳng biết bình thường đặt nơi nào ?
11. CHỈ ĐỘNG QUY CHỈ, CHÍ CÁNH DI ĐỘNG.
     Dịch : Ngăn động trở về tịnh, tịnh ấy càng thêm động.
     Lời khai thị :
     Nói quanh lao nhọc danh tướng, nói thẳng chẳng có dài dòng. Nói quanh tạm gác một bên, thế nào là nói thẳng ? Trương Tam ăn gy sắt, Lý Tứ chịu đớn đau; người sống vào quan tài, người chết đi đưa đám. Quan Âm mất hết thần thông, lại bị con nít chọc ghẹo. Nói thẳng tạm gác một bên, nói quanh lại là thế nào ?
          Hoa giác ngộ phải trồng nơi tự tánh,
          Hạt giống Phật nên gieo trên tâm địa.
     Lời nghĩa giải :
     Tổ sư nói : CHỈ ĐỘNG QUY CHỈ, CH CÁNH DI ĐỘNG, người nghĩa giải cho rằng: Chơn tâm trạm nhiên luôn luôn bất động, xưa nay lưu chuyển đều do vọng kiến. Vậy động đã là vọng, tịnh cũng là vọng, dùng vọng để ngăn vọng, giống như ôm củi chữa lửa, chỉ thêm cháy mạnh. Lấy lời Pháp sư Tăng Triệu dẫn chứng rằng : “Muốn tìm chỗ bất động, đâu phải buông động để cầu tịnh, ắt phải cầu tịnh ở nơi động. Vì cầu tịnh ở nơi động, dù động mà thường tịnh; chẳng buông động để cầu tịnh, dù tịnh mà chẳng lìa động”. Thế thì, động chẳng tướng động, tịnh chẳng tướng tịnh, như trong Kinh nói : “Hai tướng động tịnh rõ ràng không sanh”. Bởi vì rõ biết động tịnh đều là cảnh vọng, các vọng đã tiêu thì hai tướng đâu còn !
     Tịch nghĩa giải :
     Tịch rằng : Thôi ! Thôi ! Động là núi bạc, tịnh là vách sắt, nếu chưa từng đập nát, mà muốn hai tướng kia không sanh thì còn cách xa quá !
     Kệ kết thúc :
     Kệ rằng :  
          Ngọn lửa đâu cho ruồi muỗi đậu,
          Lưỡi kiếm đâu cho thân trần đụng.
          Nhà kín Đạt Ma không cửa nẻo,
          Nắm tay lôi kéo chẳng ai vào.
12. DUY TRỆ LƯỠNG BIÊN, NINH TRI NHẤT CHỦNG
     Dịch : Hễ kẹt hai bên, đâu biết vốn một.
     Lời khai thị :
     Nhìn phải nhìn trái, đông nổi tây lặn, ló ra đầu búa khổng lồ, đập lủng đáy thùng sơn đen. Chơn nhơn vô địa vị, bạt tay núi Tu Di một cái, khiến cho Bồ Tát Hư Không Tạng đứng giữa ngã tư đường chấp tay nói rằng : Cúi xin trân trọng”. Tại sao có những việc trên như thế ?
     Lời nghĩa giải :
     Tổ sư nói : DUY TRỆ LƯỠNG BIÊN, NINH TRI NHẤT CHỦNG, người nghĩa giải cho rằng : LƯỠNG BIÊN là hai tướng động tịnh, NHẤT CHỦNG là toàn thể không khác, đây là lời giải thích hai câu trên. Phải biết, động tịnh nhị biên, vọng thì cùng vọng, chơn thì cùng chơn, đâu có hai thứ.
     Tịch nghĩa giải :
     Tịch rằng : Im đi ! Im đi ! Đừng đem kiến giải vô dụng đã học được, để chôn vùi chơn tâm của Tổ Sư.
     Kệ kết thúc :
     Kệ rằng :  
          Thị nhất chủng hay phi nhất chủng,
          Thị phi kết chấp có ai biết.
          Chớ đem đá rêu xanh trong tuyết,
          Cho là cò trắng đứng dưới sông.
13. NHẤT CHỦNG BẤT THÔNG, LƯỠNG XỨ THẤT CÔNG
     Dịch : Vốn một chẳng thông, thì đặt ra hai chỗ là uổng công.
     Lời khai thị :
     Nhận nai là ngựa, gọi lu là chuông. Xưa nay đem sai chìu theo sai, chẳng khác gì đem hư không lắp hư không. Ngồi rách năm, ba cái bồ đoàn, vỗ tay cười to; đi gẩy bảy, tám cây tích trượng, mặt mày hớn hở. Quét sạch bệnh chấp Phật, Tổ, diệt mất Thiếu Lâm Tông (Thiền tông), lò rèn lâu năm lửa vẫn hồng.
     Lời nghĩa giải :
     Tổ sư nói : NHẤT CHỦNG BẤT THÔNG, LƯỠNG XỨ THẤT CÔNG, một số thiền giả bày đặt rằng : Hai câu này là lời kết trước dẫn sau. NÓI KẾT TRƯỚC là hiển bày chơn lý vốn một; DẪN SAU là tránh cái vọng của CÓ và KHÔNG vậy.
     Tịch nghĩa giải :
     Tịch rằng : Nếu là nạp Tăng chơn thật, dù nói một nói hai, câu nào cũng quy về tự tông (bản thể), lời nào cũng là ứng dụng. Nếu chẳng như thế, thì nói một đã lọt vào hang ổ rồi, huống là hai ư !
     Kệ kết thúc :
     Kệ rằng :  
          Nói MỘT xưa nay không chỗ để,
          Nói HAI đâu có chỗ lập công ?
          Chỉ vì bà mẹ dặn quá kỹ,
          Liên lụy vợ tôi chấp thấy nghe.
14. KHIỂN HỮU MỘT (chìm mất) HỮU, TÙNG KHÔNG BỘI KHÔNG
     Dịch : Trừ bỏ CÓ thì kẹt nơi CÓ, đuổi theo KHÔNG lại trái với Không.
     Lời khai thị :
     Đầu chánh đuôi chánh, tâm không mắt không, gặp nhau trong đường hẹp, nói bậy cũng trúng. Cây bách của Triệu Châu, cắt đứt một dòng suối thế gian; cái bánh sắt có nhân của Đông Sơn, bóng nước bầu trời hiện cây tùng. Voi lớn không đi con đường thỏ, sư tử đâu chịu dẫm dấu chồn.
     Lời nghĩa giải :
     Tổ sư nói : KHIỂN HỮU MỘT HỮU, TÙNG KHÔNG BỘI KHÔNG, những người đuổi theo lời nói giải rằng : CÓ là vọng có, vì trừ nó mà bị kẹt; KHÔNG vốn tự không, do muốn đuổi theo nên trái. CÓ là cái có của nhà Không. KHÔNG là cái không của nhà Có. KHÔNG nhờ có mới hiển, CÓ nhờ không mà bày; vì hiển nên toàn không là có, vì bày nên toàn có là không. Dung nhiếp với nhau mà chẳng sai, tương đối với nhau mà chẳng khác. Do đó được biết, trừ nó hay theo nó đều là vọng.
     Tịch nghĩa giải :
     Tịch rằng : Sư tử cắn người, đâu chịu đuổi theo cục xương, y văn giải nghĩa, còn không bằng con chó đuổi theo cục xương nữa, mà còn muốn nó rống lên chụp người ném cục xương ấy, thì đâu có thể được.
     Kệ kết thúc :
     Kệ rằng :  
          Chỉ vì lá bùa dán quá cao,
          Giữ cửa vẫn bị quỷ thần vào.
          Đâu bằng ở dưới thềm nhà lá,
          Suối, mây, trăng, núi làm bạn nhau.
15. ĐA NGÔN ĐA LỰ, CHUYỂN BẤT TƯƠNG ƯNG
     Dịch: Nói nhiều lo nhiều, càng chẳng tương ưng.
     Lời khai thị :
     Như nước vào nước, như gương soi gương, tẩy được pháp trần lại kết thành kiến bệnh, làm cho tam thế chư Phật không nhà để về, lịch đại Tổ sư chẳng có đạo để chứng. Vì thương xót cho quan tuần mù mắt phải xem số mạng cho Không Vương, đêm khuya lật bàn quẻ ra xem, hư minh lạnh lẽo tự soi nhau. Cho nên nói : ĐA NGÔN ĐA LỰ, CHUYỂN BẤT TƯƠNG ƯNG”.
     Lời nghĩa giải :
     Người nghĩa giải cho rằng : Nói nhiều cách đạo càng xa. Lại nói: Diệu tâm rỗng nhiên chiếu soi, lấy tịch lặng của bậc Thánh làm tông. Còn dẫn chứng Tổ Đạt Ma dạy “ngoài tuyệt các duyên, trong tâm không nghĩ tưởng”, ngoài tuyệt các duyên thì quên lời nói, trong không nghĩ tưởng thì hết niệm lo.
     Tịch nghĩa giải :
     Tịch rằng : Người dẫn chứng như thế, vậy có tương ưng với tự tánh hay chưa ? Nếu chưa thì nói chi ngôn ngữ này nọ !
     Kệ kết thúc :
     Kệ rằng :  
          Do lời hiển đạo, đạo quên lời,
          Quên đến không lời cũng vọng truyền.
          Thị phi thoát ra ngoài lời nói,
          Hư không chẳng miệng biết nói thiền.