CHÁNH VĂN (64 - 70)

64. TÔNG PHI XÚC DIÊN, NHẤT NIỆM VẠN NIÊN

     Dịch : Tông chỉ chẳng có ngắn dài, muôn năm một niệm, một niệm muôn năm.
     Lời khai thị :
     Càn là trời, khôn là đất, Thiền chẳng khác Giáo; dương là kỳ, âm là ngẫu, Giáo đâu lìa Thiền. Chỉ vì so đo với nhau, khiến con rắn uốn quanh cùng mình. Người chuyên nhất tâm tam quán, người hay trực chỉ đơn truyền. Nín như núi vách, nói như trời xa, bị kẻ không mặt mũi gặp thấy bất bình, chặn ngang hét một tiếng, khiến cho Đạt Ma cùng Thiên Thai, Hiền Thủ câm miệng nín thở, thỏng tay vào thành.
          Mỗi người tự quét tuyết trước cửa,
          Chớ đem vô minh thấm thức đin.
     Lời nghĩa giải :
     Tổ sư nói : TÔNG PHI XÚC DIÊN, NHẤT NIỆM VẠN NIÊN, người nghĩa giải cho rằng : Tổ sư lấy nhất tâm làm tông, trong pháp giới nhất tâm, cho kiếp là ngày mà chẳng rút ngắn; cho ngày là kiếp mà chẳng dài thêm, nên xem một niệm là muôn năm , chuyển muôn năm thành một niệm, chẳng dài chẳng ngắn, chẳng ít chẳng nhiều, đâu phải do thần thông mà ra, chỉ vì pháp vốn như thế.
     Tịch nghĩa giải :
     Tịch rằng : Xưa kia có người trí nhà nho, cho bài “Thọ yểu bằng nhau” là vọng tác, cho “Tứ sanh như một” là hư dối. Nếu họ biết có cái thỉết “Một niệm muôn năm” lại càng thêm kinh ngạc. Ấy cũng chẳng lạ gì, bởi chơn tục chẳng cùng lối mà thôi. Người xưa nói : “Nói chơn thì nghịch với tục, thuận tục thì trái với chơn” há chẳng đúng ư! Làm sao khiến họ xé rách lưới tục, cắt đứt căn trần, trở lại xem cái cơ xảo viên thường tự tại, ngắn dài giúp nhau của Tổ Sư, thì cái lỗi lở lời mới mong có thể tránh khỏi. Dù vậy, muốn chẳng kẹt nơi ngắn dài, thử nói một câu xem !
     Kệ kết thúc :
     Kệ rằng :
          Sát na muôn kiếp chẳng ngắn dài,
          Đo lường hư không nói tròn vuông.
          Cứ ngay khi ấy chấp là thật,
          Đứng xa ngoài cửa giành đúng sai.
65. VÔ TẠI BẤT TẠI, THẬP PHƯƠNG MỤC TIỀN
     Dịch : Chẳng phải có chỗ, chẳng phải không chỗ, mười phương hư không, chính là trước mắt.
     Lời khai thị :
     Cảnh Thanh sáu cửa, Lâm Tế tam huyền, Thiên Long giơ ngón tay, Am chủ dựng nắm tay. Chỗ có Phật chẳng được trụ, xóa hết Tây Thiên và Đông Độ ; Chỗ không Phật mau chạy qua, đánh bên Nam, động bên Bắc. Chứng chỉ lãnh xong, sáu cửa vắng lặng.
          Mở cửa thả ra hạc Dương Châu
          Chẳng cần đem theo mười vạn tiền.
     Lời nghĩa giải :
     Tổ sư nói : VÔ TẠI BẤT TẠI, THẬP PHƯƠNG MỤC TIỀN, hoặc có người dùng ý thức suy lường rằng : Tâm chẳng hình tướng, đạo tuyệt bờ bến. Ngay nơi hình tướng mà chẳng ngại mỗi mỗi phân thân; dựa nơi bờ bến mà đâu ngại trần trần hiển lộ ! Trần trần hiển lộ, chẳng lìa chỗ ở thường trạm nhiên; mỗi mỗi phân thân, tìm mãi biết ông chẳng thể thấy. Ở đây, cái ý chỉ “VÔ TẠI BẤT TẠI, THẬP PHƯƠNG MỤC TIỀN” đã rõ ràng rồi.
     Tịch nghĩa giải :
     Tịch rằng : Người nói lời này, đối với việc bị mắng là “Dòm bóng để trộm ánh sáng”, thiếu một phần cho y cũng không được. Nếu chẳng thể đích thân hạ thủ phá vỡ hàng rào thiết vi, mà muốn thấy ý chỉ VÔ TẠI BẤT TẠI của Tổ sư, khác gì đi Trịnh Châu ra cửa Tào Châu !
     Kệ kết thúc :
     Kệ rằng :
          “Ngay chỗ chẳng lìa” là vật gì ?
          Lấp bít bốn phương khắp Thái hư.
          Ném ngay trước mặt chẳng che giấu,
          Khiến kẻ nhìn thấy bị mắt mù.
66. CỰC TIỂU ĐỒNG ĐẠI, VONG TUYỆT CẢNH GIỚI
     Dịch : Cực nhỏ đồng lớn, quên hẳn cảnh giới.
     Lời khai thị :
     Đầu Tử nói : “Hoại”, Đại Tùy nói “Chẳng hoại”. Đọa hai quan ải này, đụng đâu đều chướng ngại. Không chướng ngại, chỉ cần đem hai câu ghép thành một chỗ xem, bèn thấy hạt bụi chẳng nhỏ, hư không chẳng lớn.
          Công án sẵn sàng tuyệt che giấu
          Đáy thùng vì sao chẳng chóng lủng !
     Lời nghĩa giải :
     Tổ sư nói “CỰC TIỂU ĐỒNG ĐẠI, VONG TUYỆT CẢNH GIỚI”, người nghĩa giải cho rằng: Trước nói “VÔ TẠI BẤT TẠI” tức là đề mục của “CỰC TIỂU ĐỒNG ĐẠI, CỰC ĐẠI ĐỒNG TIỂU”, nên Kinh Lăng Nghiêm nói “Trên đầu sợi lông hiện cõi Phật, ngồi trong hạt bụi Chuyển pháp luân ”. Nếu chẳng thấu đạt ý chỉ “VÔ TẠI BẤT TẠI” thì đụng đâu cũng bị kẹt nơi cảnh giới. Đã bị kẹt nơi cnh giới thì đâu có lý nào quên hẳn được ! Đã chẳng thể quên hẳn cảnh giới thì lớn có tướng lớn, nhỏ có tướng nhỏ, đâu thể dung nhiếp thành một !
     Tịch nghĩa giải :
     Tịch rằng : Chỉ như người quên hẳn cảnh giới còn thấy lớn nh hay không ? Nếu nói thấy thì chưa thể quên hẳn ; Nếu nói không thấy thì đâu khác chi người gỗ đất ? Thử nói xem !
     Kệ kết thúc :
     Kệ rằng :
          Tu Di chứa bụi người đều nhận,
          Bụi chứa Tu Di Phật cũng nghi.
          Dẫu cho kiến giải siêu tình lượng,
          Khắc thỉền mò kiếm đã chậm trì.
67. CỰC ĐẠI ĐỒNG TIỂU, BẤT KIẾN BIÊN BIỂU
     Dịch : Cực lớn đồng nhỏ, chẳng thấy bờ mé.
     Lời khai thị :
     Đắc được chẳng phải đắc, thấu rõ đâu có rõ. Tâm địa hoa nở nơi tuyết xuân, Tánh thiên nắng rọi băng hồ (dụ cho vũ trụ) sáng. Kim phụng bay liệng trên nhánh chưa mọc, voi ngọc nhiễu quanh bên cây không bóng. Bá Trượng giúp ông lão thoát thân chồn, nghèo nuôi một thân đã là nhiều ; Văn Thù chẳng thể xuất định cho cô gái, giàu chê ngàn người ăn vẫn còn ít. Chỉ biết cách núi thấy khói, ai hỏi ra cửa là cỏ, tất cả sẳn sàng, không cần tìm kiếm. Dẫu trong giày ống chơi kiềm búa, cũng là trước cửa đi quanh quẩn.
     Lời nghĩa giải :
     Tổ sư nói : CỰC ĐẠI ĐỒNG TIỂU, BẤT KIẾN BIÊN BIỂU, hạng người nghĩa giải cho rằng : Xưa kia Duy Ma Cật dùng thần lực giải thoát bất khả tư nghì, đem ba mươi hai ngàn tòa sư tử để trong phòng trượng thất, mà phòng nhỏ chẳng thấy chật, tòa lớn chẳng rút nhỏ. Rồi dùng tay phải hái lấy thế giới Diệu Hỷ để vào phòng, nói với đại chúng rằng : “Thế giới kia chẳng lay động, thế giới này chẳng biến đổi”. Đem lớn vào nhỏ, đem nhỏ vào lớn, dung nạp lẫn nhau, phi bỉ phi thử.
     Theo Kinh nói, thần lực giải thoát bất tư nghì này suốt kiếp chẳng hết, nhưng thần lực này đều từ diệu tâm sáng tỏ chảy ra. Hoặc có người nói : “Nay tôi cũng từng ngộ diệu tâm sáng t này, tại sao chẳng có thần lực ?”. Hoặc đáp rằng : “Phải biết, thần lực này vốn tự đầy đủ, chẳng cần tu chứng. Sở dĩ chưa thể hiện tiền, vì kẻ sơ tâm nhập đạo, nơi sức Định Huệ giải thoát chưa đầy đủ, dù chưa đầy đủ nhưng bổn giác trong tâm cũng chưa từng mất, khi cơ duyên đến sẽ tự hiện mà thôi ! ”. Dù nói cơ duyên đến, song cũng không được giữ một niệm tâm đợi chờ. Nếu còn có tâm đợi chờ, liền bị rơi vào dị kiến. Ví như trẻ sơ sinh, chưa rời tấm tả mà muốn gánh nặng đi xa, có thể được ư ! Dù chẳng thể gánh nặng đi xa, nhưng đối với việc gánh nặng đi xa chưa thể hiện tiền, đâu có nghi ngờ kinh sợ gì ! Kẻ chơn tham thật ngộ nghe nói thần lực này, tự nhiên chẳng nghi ngờ kinh sợ. Nếu còn một mảy may nghi ngờ kinh sợ tồn chứa trong tâm, thì tâm này chưa từng khai ngộ. Gần đây, bậc Tăng Sĩ hành cước chẳng cầu chánh ngộ, chỉ quí biện tài, lại bậc ở địa vị làm thầy, phần nhiều thuận theo trào lưu, đối với hành giả tham thiền, không dùng cơ xảo nghiêm khắc đánh đập, ai nấy cùng nhau đuổi theo vọng tình, khiến cho Bát nhã  Tòng Lâm bị quét sạch chẳng còn gì, thật đáng tiếc thay !
     Người có chí nên khắc khổ tu hành, lấy đại ngộ làm kỳ hạn, mới báo đáp được ơn sâu của Phật. Đức Phật đã từng nói hết những tệ đoan ngày nay rằng : “Chúng sanh đời mạt pháp hy vọng thành đạo, chớ cho cầu ngộ. Vì người học rộng nghe nhiều, chỉ thêm đa văn, tăng trưởng ngã kiến”. Lời Phật dù đã cách đây hơn hai ngàn năm, vẫn như hiện trên bàn tay, đủ thấy lời của bậc Thánh chẳng dối chúng ta vậy !
     Tịch nghĩa giải :
     Tịch rằng : Im đi ! Im đi ! Ông tưởng ngộ rồi là xong ư ? Dẫu cho ông chứng đắc thần lực giải thoát bất tư nghì, trong một Sát na đem mạng căn của ông già Duy Ma Cật bóp nát, nếu chưa thể quên được sở chứng của mình, còn ngồi ở trong thần dị cho là thù thắng, thì phải đến đây ăn gậy của lão Tăng !
     Kệ kết thúc :
     Kệ rằng :
          Lớn, nhỏ, mê, ngộ bặt dấu tích,
          Trăm ngàn thần lực thảy đều quên.
          Hành giả gặp ta giữa đường hẹp,
          Cây gậy đánh gẩy chưa thể tha.
68. HỮU TỨC THỊ VÔ, VÔ TỨC THỊ HỮU
     Dịch : Có tức là không, không tức là có.
     Lời khai thị :
     Nửa đêm giờ Tý, gà gáy giờ Sửu, Thạch nữ (làm bằng đá) may áo chẳng dấu nối, người gỗ ham uống rượu Bồ Đề. Lúc xế chiều giờ Thân, mặt trời lặn giờ Dậu, voi chúa đi sâu vào núi tuyết, sư tử rống nơi đống lửa hồng. Ngày đêm mười hai thời chẳng cần đếm hết, ba mươi năm sau có người phân rõ. Vô, vô, vô chẳng vô, hữu, hữu, hữu đâu hữu.Gọi là trúc bề thì phạm, chẳng gọi là trúc bề thì trái, phun hoa hương đầy áo, ông đã có cây gậy, ta cho ông cây gậy ; nắm bóng trăng trên bàn tay, tông ta chẳng lập giai cấp, đâu cần cưỡng phân xấu đẹp ! Một trần khởi tam muội, nhiều trần nhập chánh thọ. Gà vàng đá nhau dưới cây san hô, chó ngọc ngủ trong nụ hoa Chiêm bặc.
     Lời nghĩa giải :    
     Tổ sư nói : HỮU TỨC THỊ VÔ, VÔ TỨC THỊ HỮU, người nghĩa giải cho rằng : Hữu chẳng tự hữu, hữu là hữu của nhà VÔ; vô chẳng tự vô, vô là vô của nhà HỮU. Hữu chẳng đơn chiếc, vô chẳng độc lập. Người nói Hữu vì trước đã thấy vô, sau đó mới nói hữu. Nếu trong lòng trước chẳng thấy Vô thì đâu thể ở ngoài đối đãi khi không nói Hữu ! Nên biết, vô chẳng vô, vô tất là hữu ; hữu chẳng hữu, hữu tất là vô. Lý hữu vô vốn cùng một nguồn, nói Hữu thì dư cái hữu, nói Vô thì thừa cái vô. Hữu vô dung nhau, đường nói cũng bặt, ấy là ý chỉ “trở về nguồn” vậy.
     Tịch nghĩa giải :
     Tịch rằng : Dù vậy, nếu chẳng phấn khởi đại chí, bặt sự tương đối của hữu vô nơi chánh ngộ, cứ khởi tâm phân biệt thì đâu có ngày được ý quên lời ư !
     Kệ kết thúc :
     Kệ rằng :
          Trong vô nói hữu, hữu vẫn vô,
          Vật này khó vẽ vào họa đồ.
          Tức cười Triệu Châu quên trói buộc,
          Nói càn bên nhà treo hồ lô.
69. NHƯỢC BẤT NHƯ THỬ, TẤT BẤT TU THỦ
     Dịch : Nếu chẳng như thế, ắt chẳng cần giữ.
     Lời khai thị :
     Lâm Hòa Tịnh thích trồng mai, Đào Uyên Minh chỉ trồng liễu. Cùng là một hạng cao nhã đạm bạc, nhưng cả hai đều lọt vào hang ổ. Đâu bằng kẻ không ý chí, cắm một cọng cỏ trên miếng đất chẳng âm dương, khiến hoa nở trước khi có ánh nắng mặt trời, trái chín mùi sau khi sương tuyết. Các người suốt ngày đêm lẩn quẩn đoán mò trong đó có thấy chăng ? Thấy thì rất kỵ dùng mắt nhặm, chưa thấy thì chẳng nên chạy lăng xăng.
     Lời nghĩa giải :
     Tổ sư nói : NHƯỢC BẤT NHƯ THỬ, TẤT BẤT TU THỦ, người nghĩa giải cho rằng : Đây là lời dặn dò của Tổ sư, nói phải có một niệm chơn thật tương ưng với diệu tâm sáng tỏ và khế hợp với bản giác nguồn linh. Nếu chẳng như thế, dù cho biện tài thao thao, đều là sở chấp của ngoại đạo. Hoặc nói : “Nếu chẳng như thế” là quyết định muốn người khế ngộ chơn tâm. “Ắt chẳng cần giữ” là có ý muốn chỉ kẻ chẳng cầu chánh ngộ mà kẹt nơi ngôn thỉết cho là đắc chí. Nói ý này cũng thông.
     Tịch nghĩa giải :
     Tịch rằng : Vậy, như hai thỉết này nếu chẳng thể quên thân xả mạng, thề quyết đại ngộ, khi báo thân bỗng mất thì việc ta đâu còn ! Chẳng biết người học ở trong bóng mộng huyễn, dựa vào đâu mà chẳng tự cảnh sách !
     Kệ kết thúc :
     Kệ rằng :
          Hết chấp hữu vô, quên sắc không,
          Kẻ trộm tự thú hiến tang vật.
          Rẻ bằng vàng ròng, quý như sình,
          Xót thương không chỗ để chôn vùi.
70. NHẤT TỨC NHẤT THIẾT, NHẤT THIẾT TỨC NHẤT
     Dịch : Một là tất cả, tất cả là một.
     Lời khai thị :
     Hai năm là mười, hai năm cũng là bảy, pháp vốn chẳng định,lãnh hội do người. Gọi chúng sanh là chư Phật, bản thể đâu sai ; gọi chư Phật là chúng sanh, lý cũng đâu mất.Bỗng có người ra nói : “Chúng sanh tự chúng sanh, chư Phật tự chư Phật, đâu thể thánh phàm lẫn lộn !”. Khiến cho ông già Thích Ca khi không bị oan, chỉ cần nói với ông ta : “Vô thỉ vọng lưu chuyển, đều do sự chấp này”.
          Định tánh phàm phu bị Phật quở,
          Thiên thủ Quan Âm xô chẳng ra.
     Lời nghĩa giải :
     Tổ sư nói : NHẤT TỨC NHẤT THIẾT, NHẤT THIẾT TỨC NHẤT, hoặc có người dẫn chứng Kinh nói : Một là một của tất cả, tất cả là tất cả của một, nơi một chẳng ít, nơi tất cả chẳng nhiều. Đây là tâm và pháp cùng khắp, một với nhiều dung nhau, chẳng do thần thông mà ra, ấy là Pháp vốn như thế”. Thỉết này ghi đủ trong kinh sách, chẳng cần dẫn chứng, nói nhiều thêm phiền, nơi đạo vô ích.
     Phải biết, Tổ sư trước tác MINH này, đến chỗ BẤT NHỊ GIAI ĐỒNG, VÔ BẤT BAO DUNG”, e kẻ hậu học chẳng thông đạt lý viên dung, trước dùng “DÀI NGẮN TƯƠNG TỨC”, (hổ tương), Kế dùng “LỚN NHỎ TƯƠNG TỨC” kế nữa dùng “HỮU VÔ TƯƠNG TỨC”, nay lại dùng : “MỘT NHIỀU TƯƠNG TỨC”, đem vô biên thế giới dung thành pháp môn bất nhị, khai thác vũ trụ của vạn vật, mở rộng quê hương của chúng sanh, giúp cho hậu học chẳng cất bước mà đến, chẳng cách mảy trần mà nhập, chẳng ra sức mà thành, chẳng nổi niệm mà chứng. Nguyện đại từ đã thỏa mãn, công giáo hóa cũng cùng khắp rồi !
     Tịch nghĩa giải :
     Tịch rằng : Dù vậy, kẻ mang bức tranh ngựa đi tìm ngựa ngày càng thêm nhiều, phải làm sao xoay mặt họ lại, luôn cả Tổ sư cũng đuổi ra một lượt, mới biết tri ơn báo ơn. Nếu không, ví như đuôi rùa quét dấu, càng quét càng thêm. Giải nghĩa lời Tổ sư cũng giống như thế.
     Kệ kết thúc :
     Kệ rằng :
          Đại địa vò lại thành hạt gạo,
          Công khai đánh trống mọi người xem.
          Mạt vàng trong mắt nếu chưa trừ,
          Muốn biết trắng đen cũng khó khăn.