CHÁNH VĂN (56 - 63)

56. HỒ NGHI TỊNH TẬN, CHÁNH TÍN ĐIỀU TRỰC

     Dịch : Hồ nghi dứt sạch, chánh tín vững chắc.
     Lời khai thị :
     Trâu cày cấy, chó giữ nhà, mèo bắt chuột, ngựa kéo xe, thấy lửa biết cháy, thấy nước biết ướt, tại sao đối với tự tâm, mỗi mỗi tối như dầu hắc ? Nơi nghi lại thêm nghi, nơi chấp chồng thêm chấp. Chẳng cần nghi, cũng đừng chấp, ai biết muôn ngàn sai biệt này, tất cả Thánh Hiền từ đây nhập.
     Lời nghĩa giải :
     Tổ sư nói : HỒ NGHI TỊNH TẬN, CHÁNH TÍN ĐIỀU TRỰC, người nghĩa giải cho rằng : Tin có hai thứ : Chánh tín và tà tín. Tin tự tâm là Phật, chẳng cầu bên ngoài là chánh tín. Chẳng tin tự tâm là Phật, khởi tâm tìm cầu bên ngoài, dù có làm việc lớn, đều gọi là tà tín. Phải biết, chánh tín cũng có nghi : Vì chưa chứng đắc nên phát nghi. Niệm nghi từ cạn vào sâu, lâu ngày chẳng lui sụt, bỗng nhiên niệm nghi bùng nổ, tất cả thấu rõ, gọi là đại ngộ. Nên biết, ngộ là quả của tín, tín là nhân của ngộ. Pháp sư Tăng Triệu nói : “Quả chẳng gồm nhân, vì nhân thành quả”. Thế thì, lúc tin tức là lúc ngộ, lúc ngộ chẳng khác lúc tin. Bài MINH gọi là TÍN TÂM, chính là ý này vậy. Phải biết, người đại căn khí vừa nghe đề khởi, như gặp vật cũ, thấu rõ nơi tâm. Quần áo có thể quên mặc, tánh mạng có thể xả bỏ, mà muốn bảo người ấy bỏ chánh tín, dù chốc lát cũng chẳng thể được. Nên cổ nhân nói : Giả sử bánh xe lửa, xoay chuyển đỉnh đầu tôi, cũng chẳng vì khổ này, làm mất tâm Bồ Đề”. Cái niệm chánh tín nếu thật vững chắc như thế, thì đâu có lẽ nào chẳng được thân chứng ! Ngoài ra nếu do tà tín mà sanh nghi, nghi mãi không thôi thì phải sanh khởi kiến chấp điên đảo, đuổi theo cảnh duyên hư vọng, ắt đọa địa ngục Vô Gián.
     Tịch nghĩa giải :
     Tịch rằng : Phải thì phải ; nếu như “tin” tức là ngộ, thì ngộ phải lộn vào nguồn linh (Tự tánh), đã lộn vào nguồn linh, thì cái chữ TIN này, còn đặt để ở chỗ nào ? Nếu nó có chỗ đặt để thì xin chỉ ra xem ! Nếu không chỗ đặt để, thì lời Tổ sư cũng thành lời thừa.
     Kệ kết thúc :
     Kệ rằng :
          Gốc tin chẳng chánh khởi hồ nghi,
          Niệm nghi tan rã chánh tín khởi.
          Lời nói rõ ràng được tương tự,
          Cách xa Tổ đình như chân trời.
57. NHẤT THIẾT BẤT LƯU, VÔ KHẢ KÝ ỨC
     Dịch : Tất cả chẳng lưu giữ thì không thể ghi nhớ.
     Lời khai thị :
     Đại tâm rộng như hư không, đại trí sáng như mặt trời, đại nghi như đống lửa hồng, đại pháp như vách tường sắt. Bị Lâm Tế tận sức hét cũng chẳng thối lui, bị Đức Sơn thẳng tay đánh cũng chẳng chịu ngừng. Cây cột dây dưa sâu chắc, leo quấn nhánh dây không thôi dứt. Ở trong đó có người ló đầu ra nói: “Đêm qua bị tôi nhổ tận gốc rồi”. Vậy, cây cột dây dưa đã nắm trong tay, tính đặt để ở chỗ nào ? 
          Trước lời ngoài câu chẳng biết chỗ,
          Càng khiến đất bằng thêm lồi lõm.
     Lời nghĩa giải :
     Tổ sư nói : NHẤT THIẾT BẤT LƯU, VÔ KHẢ KÝ ỨC, người nghĩa giải cho rằng : Chỗ tâm hành diệt là TẤT CẢ CHẲNG LƯU, đường ngôn ngữ dứt là KHÔNG THỂ GHI NHỚ; ngoài không có pháp để bỏ là TẤT CẢ CHẲNG LƯU, trong không có tâm để giữ là KHÔNG THỂ GHI NHỚ. “Liễu liễu kiến, không một vật, chẳng phải người, chẳng phải Phật, hằng sa thế giới như bọt biển, tất cả Thánh Hiền như điện chớp” cũng là TẤT CẢ CHẲNG LƯU, “Đốt hương tỉnh tọa ở Đài Nam, suốt ngày tĩnh lặng muôn niệm quên, chẳng phải dứt tâm trừ vọng tưởng, chỉ vì chẳng việc để suy lường” cũng là KHÔNG THỂ GHI NHỚ.
     Tịch nghĩa giải :
     Tịch rằng : Vậy, dẫn chứng cũng được tương tự. Dẫu cho ông đem hết ngôn giáo của Phật Tổ dẫn chứng đến cái thúng đựng nước không chảy, chỉ là càng ghi nhớ thêm nhiều mà thôi ! Muốn tất cả chẳng giữ, há có thể được ư !
     Kệ kết thúc :
     Kệ rằng :
          Tất cả chẳng giữ, càng sanh kiến,
          Trọn chẳng ghi nhớ, vẫn còn tri.
          Nếu chẳng đích thân về quê nhà,
          Bệnh đói, bánh vẽ làm sao trị ?
58. HƯ MINH TỰ CHIẾU, BẤT LAO TÂM LỰC
     Dịch : Rỗng sáng tự chiếu soi, chẳng lao nhọc tâm lực.
     Lời khai thị :
     Đạo cần mỗi ngày một bớt, học cần mỗi ngày một thêm. Bớt đến kiến chấp tiêu hết, thêm đến đầy bụng tức ngực, bỗng nhiên thêm bớt thảy đều quên, tay không về chùa ngồi hướng vách. Trong thành Trì Dương Vương lão sư, lạnh lẽo khiến người tưởng nhớ mãi. Đừng tưởng nhớ, rỗng sáng tự chiếu soi, chẳng phải do tâm lực.
     Lời nghĩa giải :
     Tổ sư nói như thế, người nghĩa giải cho rằng: Trong sạch đã đầy tròn, chẳng dung nạp vật khác gọi là HƯ, hạt châu tự sáng tỏ, ánh trăng tự chiếu soi gọi là MINH. Đã hư mà minh, vật đến liền hiện, là công dụng của tự chiếu, chẳng cho lộn lời nói. Ở đây, nếu thêm một mảy may tâm lực thì chẳng thể cho là HƯ MINH TỰ CHIẾU rồi.
     Tịch nghĩa giải :
     Tịch rằng : Dẫn dụ rất là đúng lý, vậy ông thấy hư không phải là chẳng tướng mạo chăng ? Xưa nay chưa từng thấy hư không tự nói “Ta chẳng tướng mạo”. Nếu hư không có thể nói được thì chẳng phải hư không. Giả sử Tổ sư đã biết có thí dụ này, thì cái lỗi lỡ lời cũng khó tránh khỏi vậy.
     Kệ kết thúc :
     Kệ rằng :
          Con dấu vàng ròng tâm ấn tâm,
          Cần phải chư Tổ truyền thọ nhau.
          Lén lút lượm được cũng vô dụng,
          Đâu thể bắt chước nói diệu huyền.
59. PHI TƯ LƯƠNG XỨ, THỨC TÌNH NAN TRẮC
     Dịch : Chỗ lìa suy nghĩ, tình thức khó lường.
     Lời khai thị :
     Bột trắng trong tuyết dễ phân ra, thức tức duy tâm; mực đen trong than khó biện biệt, duy tâm tức thức. Thức chẳng phải tâm, tâm chẳng phải thức, dưới ánh mặt trời xem trắng đen, trước đài gương sáng hiện xấu đẹp. Lời nói thế này, giống như lời giảng Duy Thức Luận của Pháp sư, trước mặt nạp Tăng, làm sao hiển lộ tin tức thiệt ? Chẳng phải tâm, chẳng phải thức, ban đêm chó sủa thôn hoa, mùa xuân oanh hót bờ liễu, cá kình hút cạn sóng đáy biển, con rồng chạy vào vô sanh quốc, khiến Đại Phạm Vương giựt mình thức dậy, thẳng lên đỉnh trời Sắc Cứu Cánh, tát cho hư không một bạt tai, rãi xuống long châu trăm ngàn hột, tia sáng lấp lánh rọi áo đẹp.
     Lời nghĩa giải :
     Tổ sư nói : PHI TƯ LƯƠNG XỨ, THỨC TÌNH NAN TRẮC, người nghĩa giải cho rằng : Thức là thức của nhà tâm, tâm là tâm của nhà thức, hai thứ này như nước với sữa rất khó phân biệt. Phải biết, thức là nước, tâm là sữa trong nước, nên giáo môn nói : Vua ngỗng trọn sữa, đâu đồng loài vịt”. Trong nước đều có sữa, chỉ có vua ngỗng mới biết phân biệt, ngoài ra các thứ thủy tộc đều chẳng biết. Việc này dụ cho trong tất cả thức đều có chơn tâm, chỉ có Phật Tổ mới rõ.
     Cái giác chiếu soi của linh tri gọi là tâm, những suy tư, ghi nhớ, thủ xả, phân biệt. v.v... gọi là thức. Thức có tám thứ : Lục căn mỗi căn một thức, thứ bảy gọi là Mạt Na, thứ tám gọi là A Lại Da , cũng gọi là Như Lai Tạng. Bảy thức trước là nhánh lá, thức thứ tám là căn bản. Trong Kinh nói : “Lúc đầu thai thì đến trước, lúc chết thì đi sau; ngộ là Như Lai Tạng, mê là A Lại Da”. Lúc này nơi mê thì gìn giữ tất cả nghiệp thiện ác, vô ký, xả thân thọ thân từ vô lượng kiếp; nơi ngộ thì giữ gìn tất cả hạt giống Bồ Đề, giải thoát, trí huệ từ lúc vô thỉ. Thức này tu mê vào ngộ, chuyển thành Đại Viên Cảnh Trí, đổi tên mà chẳng thay đổi thể. Hiện nay ở trong tứ đại, ngũ uẩn, các pháp Thánh phàm, ghi nhớ rõ ràng, tác dụng phân biệt, cho đến kiến văn giác tri, tam giới rộn ràng, vạn pháp thăng trầm, mỗi niệm khởi diệt, đều nương nơi thức này mà sanh, cho nên nói : “Vạn pháp duy thức”. Khuê Phong nói : Pháp sanh vốn không, tất cả duy thức”.
     Học giả ngày nay chẳng thể đem mạng căn một dao cắt đứt, đi khắp Tòng Lâm, chỉ biết đem cái thông minh của mình dùng để dẫn khởi tình thức, ôm những huyền giải ghi nhớ trong lòng, gặp duyên mống khởi, chẳng biết huyền giải này là thuộc về “Tình thức Y Thông”, lại chấp cho là khai ngộ. Hoặc lầm nhận cái cảm giác linh động rõ ràng trước mắt này, biện luận thao thao cho là tự kỷ. Giống như Kinh Lăng Nghiêm nói : “Bỏ trăm ngàn biển lớn, chỉ nhận một bọt cho là nước cả biển”. Kinh Viên Giác nói : “Đều là tập khí vọng tưởng phan duyên lục trần, chẳng phải tâm thể chơn thật”. Hoà thượng Trường Sa nói : “Những người học đạo chẳng biết chơn, chỉ vì xưa nay nhận thức thần”, Vĩnh Gia nói : Tổn pháp tài, diệt công đức, tất cả đều do tâm ý thức v.v... Chư Phật chư Tổ đã có chỉ bày rõ ràng, mà trong mạt pháp, bệnh này ngày càng nhiều thêm ! Những kẻ mắc bệnh này đều là do lập chí học đạo chẳng chơn chánh mà ra, nếu là quyết chí muốn rời khỏi biển sanh tử thì không chịu giấu mình trong tình thức. Chỉ do ban sơ một niệm muốn hiểu thiền hiểu đạo, hiểu Phật hiểu pháp mới thành bệnh này.
     Thức này như núi Thiết Vi rộng lớn, bao vây họ từ vô thỉ, cũng như thiên binh vạn mã, ngày đêm ở trước cửa lục căn, rình sơ hở của họ. Nếu không đủ chí quyết định liễu sanh tử, thì đi đâu cũng phải vào đó. Tổ sư làm bài TÍN TÂM MINH này, là mở rộng cửa thiền cho kẻ hậu học thoát khỏi tình thức, chỉ tin tự tâm, cất bước liền vào. Nếu tình thức của học giả còn một mảy may chưa sạch, đọc bài Minh này trở thành thuốc độc. Sự lợi hại như thế, nên hai câu đầu nói CHÍ ĐẠO VÔ NAN DUY HIỀM GIẢN TRẠCH”. Chỉ hai câu này, đem tâm với thức phân giải rõ ràng, tại sao ? Nói CHÍ ĐẠO VÔ NAN tức là chỉ chơn tâm; DUY HIỀM GIẢN TRẠCH tức là phá tình thức, kẻ tình thức chưa quên, thấy người nói lời này, bèn nói : Tôi chỉ “chẳng lựa chọn”, đâu biết chỉ cái “Chẳng lựa chọn” này đã là hiểu theo tình thức rồi, huống là kẻ mỗi mỗi chấp có, gặp cảnh sanh tình ư !
     Nên ý bài MINH này từ đầu đến cuối, nói đi nói lại, chẳng rời bản tâm, chẳng qua vì giúp người học biện rõ tâm với thức mà thôi. Cho nên nói “PHI TƯ LƯƠNG XỨ, THỨC TÌNH NAN TRẮC”.
     Tịch nghĩa giải :
     Tịch rằng : Theo lời nói : “DUY HIỀM GIẢN TRẠCH” nay lại ở trong pháp một tâm, chỉ ra tình và thức, ấy là lựa chọn hay chẳng lựa chọn ? Nhưng tình và thức, với một tâm quả là khác hay là đồng ư ? Người chơn thật học đạo, ở đây nếu chẳng thể xác định, mà muốn thấy ý chỉ TÍN TÂM MINH của Tổ sư, chẳng phải còn xa xôi ư !
     Kệ kết thúc :
     Kệ rằng :
          Chỗ lìa suy nghĩ rất khó lường,
          Môn đồ học Phật đều nên rõ.
          Ngay đó chẳng biết thiếu vật gì,
          Thông minh lanh lợi lại bị lừa.
60. CHƠN NHƯ PHÁP GIỚI, VÔ THA VÔ TỰ
     Dịch : Chơn như pháp giới, chẳng người chẳng mình.
     Lời khai thị :
     Sư Khoáng không lỗ tai, chí thần (Tự tánh) không bản thể, nguồn linh không có đáy, Đạt Ma truyền tủy đâu thể được ! Xưa kia ở chung không biết tên, hôm nay gặp nhau chẳng phải ngươi. Bóng trăng đẹp mà xuống nước chẳng chìm, gió lạnh lẽo mà sáu cửa tự mở. Chẳng phải tâm, chẳng phải Phật, dây dưa mục leo quấn trước kiếp Không; “Gió chẳng động, phướn chẳng động”, Huệ Năng đắc chí nơi phòng giã gạo. Linh Chiếu rõ ràng ta chẳng biết, Mây trăng khe núi tự quen nhau.
     Lời nghĩa giải :
     Tổ sư nói : CHƠN NHƯ PHÁP GIỚI, VÔ TỰ VÔ THA, người nghĩa giải cho rằng : CHƠN NHƯ PHÁP GIỚI là tổng danh của một tâm, ngoài tâm chẳng pháp thì đâu có cái tên gọi “TỰ THA” ? Không những tự tha chẳng lập, cho đến núi sông đất đai, hữu tình vô tình, đều chẳng thể đắc lại thành có. Dù nói chẳng thể đắc mà có, cũng chẳng ngại an lập vật tượng, tự tha. Tại sao ? Chơn như pháp giới dụ như vàng, vật tượng tự tha dụ như bông tai, cà rá, dây chuyền...
     Phải biết, vàng là thật thể, các đồ trang sức là quyền danh (tên tạm gọi). Thật chìu theo Quyền thì vật tượng tự tha chẳng ngại an lập; dung Quyền về Thật thì chỉ thấy chí thcủa nhất chơn pháp giới. Vậy, giả danh của các thứ trang sức chẳng cần trừ mà tự mất rồi. Kẻ mê muội chẳng thông đạt ý chỉ viên dung của Tổ sư, cho là đoạn diệt, đọa nơi rỗng không, lập cái thỉết “VÔ THA VÔ TỰ” ở đây cần phải biện bạch cho rõ.
     Tịch nghĩa giải :
     Tịch rằng : Biện thì cứ biện, nhưng trong chơn như pháp giới còn dung nạp được lời biện này chăng ?
     Kệ kết thúc :
     Kệ rằng :
          Trong chẳng tự kỷ ngoài chẳng tha (người khác).
          Cả gan nuốt trọn trái bí kia,
          Thẳng tay tặng người, người chẳng nhận.
          Rãi cát quăng bùn vẫn y xưa.
61. YẾU CẤP TƯƠNG ƯNG, DUY NGÔN BẤT NHỊ
     Dịch : Gấp muốn tương ưng, chỉ nói bất nhị.
     Lời khai thị :
     Biển dụ cho tánh, đất dụ cho tâm, chứa đầy mà chẳng tràn, hứng nặng mà chẳng sụp, dung nạp hư không chẳng ngằn mé, xuyên thấu cổ kim chẳng biên cương. Trước nói “Bất lạc”, sau nói “Bất muội”, hồ ly tinh đâu phải hai con; hôm qua nói “Định”, hôm nay nói “chẳng định, cục cứt khô nuốt trọn vào bụng. Biện tài của Duy Ma Cật khiến hàng Bồ Tát bịt miệng; lưỡi bén như kiếm của Văn Thù đã làm thầy cho bảy Phật, Tông ta vốn chẳng dây dưa này, chí lý đâu có ghi bia đá.
          Tiếng sóng ngàn sông chìm biển rộng,
          Muôn núi hùng vĩ kém đỉnh cao.
     Lời nghĩa giải :
     Tổ sư nói : YẾU CẤP TƯƠNG ƯNG, DUY NGÔN BẤT NHỊ, người nghĩa giải cho rằng : Tổ sư phí sức phân biệt, trước nói “CHỈ CHÊ LỰA CHỌN” kế nói “MỘT CŨNG ĐỪNG GIỮ”, MUÔN PHÁP CÙNG QUÁN”, “MUÔN PHÁP NHẤT NHƯ” v.v... đều là lý của hai chữ CHỈ NÓI”. Nhưng chư Phật, chúng sanh, bản thể bất nhị, nói “Thành Phật” đã là lời thừa, vậy nói MUỐN GẤP TƯƠNG ƯNG” dường như thành hai đoạn rồi.Nếu quả thật có cái lý tương ưng và chẳng tương ưng, thì rõ ràng là nhị, đối với việc này chưa thể không nghi.
     Tịch nghĩa giải :
     Tịch rằng : Chỉ e cái nghi này chẳng chơn thật, chẳng vững chắc. Nếu chơn thật vững chắc, thì cái nghi này sẽ có ngày tự bùng nổ. Nghi này nếu vỡ thì NHỊ với BẤT NHỊ của TƯƠNG ƯNG hay CHẲNG TƯƠNG ƯNG đã thấu rõ trước cơ xảo, lãnh hội ngoài ngôn ngữ, mới biết ơn lớn của Tổ sư khó đền đáp.
     Xưa Ngài Duy Ma Cật bảo chúng Bồ Tát nói pháp môn Bất Nhị, mỗi mỗi nói xong, lại bị chúng Bồ Tát hỏi ngược lại thì im lặng chẳng đáp. Lúc ấy Văn Thù tán thán rằng : “Chơn nhập pháp môn bất nhị”. Vậy lời tán thán của Văn Thù sanh khởi từ chỗ nào ? Nếu cho im lặng là pháp môn bất nhị, thì người bệnh câm và người gỗ máy đều được nhập pháp môn bất nhị rồi ! Nếu im lặng có thể gọi là pháp môn bất nhị thì ngữ ngôn cũng có thể gọi là pháp môn bất nhị, cho đến ca hát, cười giỡn đều gọi là bất nhị ư ! Tại sao chỉ khen một mình Duy Ma Cật vậy ? Ở đây cần phải thấu rõ ý chỉ mũi kim đụng nhau đúng khớp của hai vị đại sĩ Văn Thù và Duy Ma Cật, thì lời nói TƯƠNG ƯNG hay CHẲNG TƯƠNG ƯNG trong một tiếng cười đã tẩy sạch rồi.
     Kệ kết thúc :
     Kệ rằng :
          Cửa Thiền Tổ sư tuyệt chi ly,
          Đá lửa điện chớp vẫn chậm trì.
          Muốn gấp tương ưng nói BẤT NHỊ,
          Bà lão nhai cơm mớm tiểu nhi.
62. BẤT NHỊ GIAI ĐỒNG, VÔ BẤT BAO DUNG
     Dịch : Bất nhị chẳng phải đồng, nhị mới có bao gồm.
     Lời khai thị :
     Tổ Tổ tâm không, Phật Phật đạo đồng. Tâm không thì các ngôi sao cùng hướng về Bắc Đẩu; đạo đồng thì muôn dòng nước đều chảy về biển Đông. Hưng Hóa hôm qua dự trai Tăng trong làng, đạo ta nhất quán; Đức Sơn hôm nay không trả lời, công án hai lớp. Bắt hổ dữ, phân rắn rồng, chẳng phí chút sức của Hải Thần; Nổ sấm sét, phủ mây mù, tiêu hao Long Vương bao nhiêu gió. Mũi kim gọt sắt để chìm đại địa, vắt nước chỉ mành ngập khắp hư không. Chẳng cán nắm, tuyệt củi lồng, sông Thiền vốn chẳng có đò đưa, vách sắt đâu có cửa nẻo thông.
     Lời nghĩa giải :
     Tổ sư nói : BẤT NHỊ GIAI ĐỒNG, VÔ BẤT BAO DUNG, hạng người hiểu theo văn tự cho rằng : Kinh Pháp Hoa nói : “Chỉ một sự thật này, ngoài ra đều chẳng chơn”. Còn nói : “Tất cả chư Phật chỉ một Phật thừa, chẳng hai chẳng ba”. Nói “MỘT”, là diệu tâm sáng tròn, thể lìa tu chứng, dọc gồm tam thế, ngang thấu mười phương, sắc, không, sáng, tối lấy đó làm nguồn, Thánh phàm mê ngộ lấy đó làm gốc, cho đến cùng khắp pháp giới, nếu thấy có mảy may chẳng do đó sanh khởi, đều là sở chấp của ngoại đạo. Cho nên nói : “Sum la và vạn tượng, do một pháp ấn định”. Lời “BẤT NHỊ GIAI ĐỒNG, VÔ BẤT BAO DUNG” chẳng thể ở ngoài nghĩa này.
     Tịch nghĩa giải :
     Tịch rằng : Nói như thế, tất cả ngôn giáo đã ghi đầy đủ, đâu cần Tổ sư từ Tây Trúc sang ! Phải biết, ngôn giáo như bức tranh hoa của Triệu Xương, cao thấp xa gần, búp nở đậm nhạt, xem rất đẹp mắt nhưng chẳng phải hoa thật vậy. Nếu chưa thể nơi gót chân một dao cắt đứt cuộn chỉ rối, thì đối với tông chỉ BẤT NHỊ GIAI ĐỒNG” đâu thể chỉ miệng nói tai nghe mà đắc được ư !
     Kệ kết thúc :
     Kệ rằng :
          Vàng ròng đúc thành trứng gà trống,
          Đập nát y xưa vẫn còn nguyên.
          Chẳng biết có gì bao trong đó.
          Suốt đêm tia sáng rọi càn khôn.
63. THẬP PHƯƠNG TRÍ GIẢ, GIAI NHẬP THỬ TÔNG
     Dịch : Người trí mười phương, đều vào tông này.
     Lời khai thị :
     Chí thần vô công dụng, chí thể chẳng hỗn dung, như chuông nơi chánh điện, lỗ tai chẳng nghe động tịnh; như mùa xuân đến vườn, nhánh hoa tự trắng tự hồng. Ngũ vị Quân Thần của Động Sơn, đàn tấu trước khi chưa phổ nốt nhạc; bốn thứ chiếu dụng của Lâm Tế, là gia phong đánh roi sắt, vạn linh khó lường.Châu ngọc xoay chuyển trước đường cơ xảo, gió bay sấm sét mở mắt trên đỉnh đầu. Suy nghĩ chẳng đến, nhanh cũng khó gặp.
          Sắp xếp cổ Phật lìa hang ổ,
          Đánh cho rắn chết hóa thành rồng.
     Lời nghĩa giải :
     Tổ sư nói : THẬP PHƯƠNG TRÍ GIẢ, GIAI NHẬP THỬ TÔNG, người nghĩa giải dẫn chứng Kinh Hoa Nghiêm nói : “Cảnh giới của Như Lai, vô lượng bằng hư không, tất cả chúng sanh vào, kỳ thật chẳng chỗ vào”. Kinh Viên Giác nói : “Những người năng nhập, nếu có năng nhập thì chẳng phải giác nhập”. Phải biết, tông này tất cả chúng sanh vốn đã thâm nhập, đâu có lý nào lại nhập nữa ! Chúng sanh đã như vậy, thì người trí không nên lại có sở nhập. Vĩnh Minh nói : “Tâm chơn như vốn chẳng thể lìa”, nhưng kẻ mê dụ là xuất, kẻ ngộ dụ là nhập, làm cho mê ngộ tương đối, thật đâu có sự xuất nhập ư !
     Tịch nghĩa giải :
     Tịch rằng : Hãy gác lời này lại ! Ông có từng ngộ chưa ? Đợi ông chơn thật có chỗ ngộ, mới thấy lời của Tổ sư không dối.
     Kệ kết thúc :
     Kệ rằng :
          Đồng nói tông này khó được diệu,
          Người trí mười phương cứ bàn nhau.
          Nếu chưa buông tay nơi vực thẳm,
          Chỗ nhập đâu khác địa ngục môn !