CHÁNH VĂN (46 - 55)

46. ĐẮC THẤT THỊ PHI, NHẤT THỜI PHÓNG KHƯỚC

     Dịch : Đắc, thất, thị, phi, đồng thời buông bỏ.
     Lời khai thị :
Tuyết Phong ném banh gỗ, Phổ Hóa rung chuông sắt, dù nói là đại cơ đại dụng, rốt cuộc trở thành tạo tác. Đâu bằng Vương Thái Phó ở trong quốc độ Vô Sanh, cũng chẳng thiện, cũng chẳng ác, mặc tình ăn no nằm dài ngủ, tùy ý tự tại an lạc, có người đến hỏi Tổ sư Thiền, bảo y cứ xem cây phướn vàng.
     Lời nghĩa giải :
     Tổ sư nói : ĐẮC THẤT THỊ PHI, NHẤT THỜI PHÓNG KHƯỚC, người nghĩa giải cho rằng : Trong nhất pháp giới chẳng đắc cũng chẳng thất, chẳng thị cũng chẳng phi, chỉ vì vọng tình chợt khởi, dị kiến liền sanh, ở nơi chẳng đắc thất bừng khởi đắc thất, ở nơi chẳng thị phi nổi đủ thứ thị phi. Do đó Tổ Sư bảo y “đồng thời buông bỏ”, đã là tự chạm dao bén làm cho đứt tay, đất bằng dậy sóng rồi. Đã biết xưa nay vốn không, thì buông bỏ cái gì ? Nếu nó có cái lý “có thể buông bỏ” thì đắc thất thị phi đặt để ở chỗ nào ?
     Tịch nghĩa giải :
     Tịch rằng : Ủa ! Nói “có thể buông bỏ” cũng đáng ăn gậy, nói “không thể buông bỏ” cũng đáng ăn gậy, ti sao ? Vì ông chưa thoát khỏi được đắc thất thị phi vậy !
     Kệ kết thúc :
     Kệ rằng :
          Hai tay xòe ra chẳng một việc,
          Thị phi đắc thất thảy đều quăng.
          Muốn lấy cái này thoát sanh tử,
          Con rắn xiết chặt đôi chân ông.
47. NHÃN NHƯỢC BẤT THÙY, CHƯ MỘNG TỰ TRỪ
     Dịch : Mắt nếu chẳng ngủ, chiêm bao tự dứt.
     Lời khai thị :
     Quanh năm ngồi kiết già, suốt ngày miệng như câm, hai mắt ngó trên vách, chẳng biết mong muốn gì. Tham cứu tự kỷ, nửa nghi nửa tin, xem lời cố nhân, tợ có tợ không. Đến lúc năm cùng tháng tận, trở thành leo cây bắt cá.
          Đâu bằng quét sạch cả hư không,
          Trong lòng ló ra dạ minh châu.
     Lời nghĩa giải :
     Tổ sư nói : NHÃN NHƯỢC BẤT THÙY, CHƯ MỘNG TỰ TRỪ, người nghĩa giải cho rằng : Hai câu này là dụ trước hợp sau, như người mở to đôi mắt, rõ ràng tỉnh táo, thì hôn trầm tự trừ, đã chẳng hôn trầm thì đâu có chiêm bao ?
     Tịch nghĩa giải :
     Tịch rằng : Nếu làm thí dụ thì được, nếu chẳng làm thí dụ, thì Tổ sư cũng đáng ăn gậy. Tại sao ? Nay mở mắt đâu từng chẳng phải là chiêm bao !
     Kệ kết thúc :
     Kệ rằng :
          Kim Cang chánh nhãn chưa từng ngủ,
          Chẳng biết mộng lớn bao giờ thức.
          Gởi lời thiền khách cửa Tổ sư,
          Chớ cho hạc hót là oanh ca.
48. TÂM NHƯỢC BẤT DỊ, VẠN PHÁP NHẤT NHƯ
     Dịch : Nếu tâm chẳng cho là có khác, thì muôn pháp chỉ là một Như”.
     Lời khai thị :
     Chỗ hành của đạo nhân như lửa tan băng, trước mặt của nạp tăng như băng dập lửa. Ném bỏ hai thứ băng lửa, mặt cho thánh phàm cùng lối. Đạo sĩ không tay vẻ bùa quỷ, Xà lê mù mắt đọc kinh Phật. Lại còn một chỗ đáng tin cậy : Tò vò nuốt cả hồ Động Đình.
     Lời nghĩa giải:
     Tổ sư nói : TÂM NHƯỢC BẤT DỊ, VẠN PHÁP NHẤT NHƯ, người nghĩa giải cho rằng : Vạn pháp nhất như, do tâm mới thành khác. Ví như núi chẳng tự cao, tâm cho là cao; nước chẳng tự sâu, tâm cho là sâu. Tâm này cho là khác thì muôn ngàn sự vật đều thành khác. Cổ và lưng vốn cùng một thân mà xem nó như hai nước Sở và Việt; anh em cùng giống nòi mà coi nhau như trời với đất. Vì sự khác nên tình chí thân còn phải khác, huống là phàm với Thánh, người với vật, muốn dung hợp thành một, chẳng sanh yêu ghét này nọ, đâu có thể được ! Kinh nói : “Chưa đạt cảnh duy tâm, khởi đủ thứ phân biệt”, như bọn mù mò voi, như thấy bóng cong trong nước nghi là rắn... ở nơi chẳng đồng dị bừng khởi đồng dị. Cần phải trị hết bệnh nhặm, chẳng thấy hoa đốm trên không, dung pháp giới về tâm này, như gương soi gương, chuyển núi sông vào tự kỷ, tợ không hợp không. Đến đây các duyên tịch lặng, tâm niệm im lìm, nhị kiến chẳng sanh, nhất pháp ấn định, mới có thể gọi là phù hp ý Tổ, khế hợp tâm Phật vậy.
     Tịch nghĩa giải :
     Tịch rằng : Lời này tạm gác qua một bên. Nay trước mắt sáng tối, thông, nghẽn, thành, trụ, hoại, không, cảnh tượng lăng xăng, gọi cái gì là tâm bất dị ? Ngay đó chỉ bày không ra. Hoặc có người nói : “Mặc cho các pháp hiển bày trước mắt, ta chỉ dùng cái lý “Bất dị” để chiếu soi, tức là chẳng khác”. Ôi ! Nếu nói như thế, lại càng thêm nhiều khác biệt nữa !
     Kệ kết thúc :
     Kệ rằng :
          Tâm chẳng khác biệt đồng vn pháp,
          Nắm tay chỉ để dọa trẻ em,
          Cứ theo hình vẽ đồ cho giống,
          Lừa gạt người đời khi nào thôi.
49. NHẤT NHƯ THỂ HUYỀN, NGỘT NHĨ VONG DUYÊN
     Dịch : Một chữ “NHƯ” thể tánh huyền diệu, cùng tột bình đẳng, bặt nhân duyên đối đãi.
     Lời khai thị :
     Thiền, thiền, thiền, lìa lý giải, Thích Ca chưa được một nửa, Đạt Ma còn thiếu tám ngàn. Lâm Tế hét tới mỏi miệng. Đức Sơn đánh tới phồng tay, mỗi mỗi kiểm điểm từ đầu, vẫn cách trời đất xa xôi. Tiến tới như vạch sóng tìm nước, thối lui như đào đất tìm trời, chẳng tiến chẳng lui cầu tương ưng, cần phải tham thêm ba mươi năm.
     Lời nghĩa giải :
     Tổ sư nói : NHẤT NHƯ TH HUYỀN, NGỘT NHĨ VONG DUYÊN, người nghĩa giải cho rằng : Thể tánh của chữ NHƯ huyền diệu lại thêm huyền diệu, chẳng vì nhân duyên mà có, chẳng do tự nhiên mà thành. Lìa tứ cú, tuyệt bách phi, Phật nhãn chẳng thể thấy, thánh tâm cũng khó lường. Quăng đại thiên thế giới ra ngoài mười phương, cuốn chặt pháp giới thành một mảy lông. Một không thì tất cả không, chẳng cần mổ xẻ, một có thì tất cả có, đâu cần tạo tác, trần sa chẳng thể dụ số nhiều, hào ly chẳng thể dụ số ít. Nói “Bặt nhân duyên, tuyệt đối đãi” tức là tánh huyền diệu của một chữ “NHƯ” vậy.
     Tịch nghĩa giải :
     Tịch rằng : Nói thì nói gần đúng, ngươi nếu chứa lời này trong lòng, muốn tương ưng với thể tánh huyền diệu của chữ “NHƯ”, chẳng khác gì ôm lửa trong lòng mà cầu cho đừng cháy !
     Kệ kết thúc :
     Kệ rằng :
          Nói NHƯ, ngoài NHƯ đâu còn NHƯ ?
          Núi khe trùng điệp ẩn nhà xưa.
          Mặt trời lên cao ngủ mới thức,
          Nhàn thấy mục đồng cưỡi ngược lừa.
50. VẠN PHÁP TỀ QUÁN, QUI PHỤC TỰ NHIÊN
     Dịch : Muôn pháp cùng quán một lượt, tất cả trở về tự nhiên.
     Lời khai thị :
     Phật pháp chẳng ở ngoài tâm, thiền đạo đâu lìa trung đạo nhị biên ! Ngươi nếu khởi tâm tìm cầu, lại xa thập vạn bát thiên. Có gì tam yếu tam huyền, toàn thân chẳng hình bóng, ngay đó lìa ngữ ngôn.
          Đạo nhân đâu cần cầu tương ưng,
          Xưa nay chưa từng chẳng hiện tiền.
     Lời nghĩa giải :
     Tổ sư nói : VẠN PHÁP TỀ QUÁN, QUI PHỤC TỰ NHIÊN, người nghĩa giải dẫn chứng Giáo môn nói: “Tùy duyên nên chơn như là vạn pháp, bất biến nên vạn pháp là chơn như”. Còn nói : Ngoài tâm chẳng có pháp để làm duyên với tâm, vốn là tự tâm sanh, lại làm tướng cho tâm”. Lời này so với cái lý VẠN PHÁP TỀ QUÁN” của Tổ sư, cũng chẳng cách xa vậy. Hoặc nói “TỀ QUÁN” cũng là cái bóng của “Chẳng lựa chọn”, nếu còn lựa chọn thì chẳng thể tề quán rồi.
     Tịch nghĩa giải :
     Tịch rằng : Dẫn chứng thì chẳng phải không đúng, như mặt trời mọc, mặt trăng lặn; ban đêm tối, ban ngày sáng, rõ ràng chẳng thể lẫn lộn. Vậy thì có đạo lý gì để nói “TỀ QUÁN” ? Lìa khỏi lời này, xin cho một tin tức tốt hơn thử xem !
     Kệ kết thúc :
     Kệ rằng :
          Vạn pháp làm sao khiến cho bằng ?
          Đâu thể trở về lúc tự nhiên.
          Xưa nay tri âm rất khó gặp,
          Bá Nha, Tử Kỳ đi đâu tìm.
51. DẪN KỲ SỞ DĨ, BẤT KHẢ PHƯƠNG TỶ
     Dịch : Bặt hết lý giải, chẳng thể thí du.
     Lời khai thị :
     “Cái trong điện, cái ngoài tường”, của Triệu Châu, “Đánh xe, đánh bò ” của Mã Tổ, “Giơ nắm tay, giơ ngón tay” của Câu Chi, “Ném ba trái banh gỗ” của Tuyết Phong, Gởi ba tờ giấy trắng” của Huyền Sa. Nói tánh nói tâm nơi Linh Sơn, nói da nói tủy nơi Thiếu Thất, Tào Động lập ngũ vị quân thần, Qui Ngưỡng lập cửa thiền cha con. “Đầy mắt núi xanh” của Đức Thiều (Quốc sư), Nước hồ trước cửa” của VĨnh Minh... Thả đi thì sáng khắp bầu trời, chặn lại thì gió bay muôn dặm, trước lời không ngưng cơ xảo, tiếng nói đâu cho chỏ mỏ. Hứ ! Tất cả đều là mở mắt đái dầm, đốt nhang dẫn quỷ, tại sao vậy ?
     Lời nghĩa giải :
     Tổ sư nói : DẪN KỲ SỞ DĨ, BẤT KHẢ PHƯƠNG TỶ, người nghĩa giải cho rằng : Kinh Bát Nhã dùng một trăm dụ để dụ Bát Nhã, có kinh khác cũng dùng một trăm dụ để dụ giải thoát, còn có người dùng một trăm dụ để dụ tâm Bồ Đề, ghi đủ trong kinh sách, đâu có cái lý “Chẳng thể thí dụ” ? Phải biết, Bát Nhã, giải thoát, Bồ Đề thì có thể thí dụ, giả sử bỏ hết tất cả danh tướng thì nhất tâm đều bặt, ngay khi ấy còn lập được thí dụ gì chăng ? Hoặc theo người xưa nói : “Cò trắng với tuyết chẳng đồng sắc, ánh trăng hoa lau chẳng giống nhau”, lời này há chẳng phải thí dụ ư !
     Tịch nghĩa giải :
     Tịch rằng : Ông muốn ở nơi tuyết trắng hoa lau tìm đạo lý, chẳng khác gì nhận màu đỏ Của v quít cho là lửa !
     Kệ kết thúc :
     Kệ rằng :
          Diễn tả sừng thỏ dài ba thước,
          So với lông rùa ngắn một phân.
          Lại có hạng người tánh hàm hồ,
          Tai mắt dường như chẳng thấy nghe.
52. CHỈ ĐỘNG VÔ ĐỘNG, ĐỘNG CHỈ VÔ CHỈ
     Dịch : Ngưng động chẳng phải tịnh, động ngưng cũng chẳng phải ngưng.
     Lời khai thị :
     Muôn toa xe đồng ray, muôn sự việc đồng lý, muôn dụng cụ đồng kim loại, muôn làn sóng đồng chất nước. Vạn tượng sum la, thảy đều là ông. Ông nếu không tin, hãy vào bụng của Thích Ca, Đạt Ma đi hành cước trăm ngàn vòng, mới biết tất cả vẫn y như cũ.
     Lời nghĩa giải :
     Tổ sư nói : CHỈ ĐỘNG VÔ ĐỘNG, ĐỘNG CHỈ VÔ CHỈ, người nghĩa giải cho rằng : Lòng từ bi thống thiết của Tổ sư, đem hai bên động tịnh vò thành một khối, nói trắng cho nghe, đại khái đồng ý chỉ của Pháp sư Tăng Triệu nói : “Tức tịnh mà động, tức động mà tịnh”, cũng là ý chỉ của VẠN PHÁP TỀ QUÁN”. Chẳng những động tịnh như thế, mà tất cả cảnh duyên cũng đều như thế. Tức tịnh là động, hoa rụng là do gió xuân đưa; tức động là tịnh, băng tan cũng do mặt trời soi. Người trí quán pháp chẳng sai biệt, kẻ mê do đây khởi điên đảo.
     Tịch nghĩa giải :
     Tịch rằng : Lời này tạm gác một bên ! Nếu như chẳng động chẳng tịnh, ngay khi ấy, còn có lý lẽ gì để thảo luận hay không ? Nói mau, nói mau !
     Kệ kết thúc :
     Kệ rằng :
          Động tịnh mống khởi bệnh liền sanh,
          Nắm tay kéo nhau vào lửa hồng.
          Con voi xưa nay vẫn như cũ,
          Bọn mù mò mẫm thảy đều sai.
53. LƯỠNG KÝ BẤT THÀNH, NHẤT HÀ HỮU NHĨ
     Dịch : Hai đã chẳng thành, một làm sao có !
     Lời khai thị :
     Biển Phật không bờ, Sông Thiền không đáy. Nước một thước, sóng một trượng, mãi mãi không thôi. Mã Tổ bảo Bàng Uẩn “Một hớp hết nước Tây Giang”; “Tào Nguyên một giọt nước” của Pháp Nhãn, “Câu hết làn sóng” của Thỉền Tử, tất cả thị phi trước kia, chỉ liên lụy cho Hứa Do phải rửa lỗ tai mà thôi. Nước lớn đầy trời, ngập khắp muôn dặm.
Lúc xưa chẳng biết bít nguồn suối,
Đến nay đất bằng nổi làn sóng.
     Lời nghĩa giải :
     Tổ sư nói : LƯỠNG KÝ BẤT THÀNH, NHẤT HÀ HỮU NHĨ, người nghĩa giải cho rằng : Thị chẳng phi không thị, phi chẳng thị không phi. Vừa thấy có thị, trước đã có phi; vừa thấy có phi, trước đã có thị. Cho nên thị chẳng tự lập, phi chẳng độc tồn. Phi là cội của thị, thị là gốc của phi. Cho đến chơn vọng, ngôn mê v.v... tất cả đều vậy. Thế thì, cái hai của thị phi đã trừ, cái nhất của trung đạo đâu còn ! Tổ sư đến đây thật là mổ bụng thấy tim, từ bi quá lố rồi !
     Tịch nghĩa giải :
     Tịch rằng : Nếu hai đã chẳng thành, một cũng không có, vậy còn có kẻ biết “chẳng thành” không có” chăng ? Nếu nói KHÔNG thì ai biết sự chẳng thành ? Nếu nói CÓ lại gọi là “không có” được chăng ? Tổ sư đến chỗ này chỉ có phần đớ lưỡi.
     Kệ kết thúc :
     Kệ rằng :
          Chẳng thả xuân về, xuân tự về,
          Vườn cây mỗi mỗi hiện xanh tươi.
          Bông tím hoa hồng biết đâu kể,
          Bươm bướm từng đôi bay khắp nơi.
54. CỨU CÁNH CÙNG CỰC, BẤT TỒN QUY TẮC.
     Dịch : Cùng tột cứu cánh, chẳng còn quy tắc.
     Lời khai thị :
     Mười tấc là thước, mười thước là trượng. Bên Đông mặt trời mọc, bên Tây mặt trời lặn, hỏi khắp mọi người trong vô số quốc độ, có ai chẳng biết ? Tại sao nói đến Tổ sư Thiền, mỗi mỗi ngơ ngác như vách sắt? Còn có câu “Mạc hậu lao quan” rất khó hiểu, chẳng ai che giấu, cùng đưa ra một lượt, ấy là cái gì ? Thật là oan uổng.
     Lời nghĩa giải :
     Tổ Sư nói : CỨU CÁNH CÙNG CỰC, BẤT TỒN QUY TẮC, người nghĩa giải cho rằng : Hư không, sắc tướng, lớn nhỏ, dài ngắn trong mười phương pháp giới, tất cả đều là tự kỷ. Tùy chân bước, chẳng rời điền địa của Tổ Tông; tùy miệng nói, đều là chơn lý của cổ Phật. Cho đến ôm vợ mắng Thích Ca, say rượu đánh Di Lặc, đều thành Nhất Hạnh Tam Muội, còn nói chi khai, giá, trì, phạm v.v… ? Nếu Vĩnh Gia cũng nói : “Đại ngộ chẳng kẹt nơi tiểu tiết”.
     Tịch nghĩa giải :
     Tịch rằng : Thôi ! Thôi ! Nói cũng nói được quá rõ ràng, nhưng Diêm La Vương chỉ muốn bắt bọn nói những lời này đến cho ăn gậy sắt. Việc này lợi hại ở chỗ nào ? Mọi người về nhà tự kiểm điểm xem !
     Kệ kết thúc :
     Kệ rằng :
          Tùy tay đem ra tùy miệng bàn,
          Phóng túng tung hoành kim chỉ nam.
          “Chẳng còn quy tắc”, lại giữ niệm,
          Tự tánh bất nhị thành hai ba.
55. KHẾ TÂM BÌNH ĐẲNG, SỞ TÁC CÂU TỨC
     Dịch : Khế hợp bản tâm thì tất cả bình đẳng, năng tác sở tác đều tự dứt.
     Lời khai thị :
     Voi chúa quày đầu nhìn, sư tử chụp ngược lại. Chơn chẳng che ngụy, khúc chẳng dấu trực. Chỉ có Tôn giả Kiều Trần Như, suốt năm tĩnh tọa, tĩnh tĩnh, tịch tịch, cũng chẳng màng đến tháng thiếu là hai mươi chín, tháng đủ là ba mươi, đêm khuya thì đậu tâm không, thấu qua gai góc đầy trời
          Nhân dạo ngoài đồng mở mắt xem,
          Hàn mai hoa nở tự tịch mịch.
     Lời nghĩa giải :
     Tổ sư nói : KHẾ TÂM BÌNH ĐẲNG, SỞ TÁC CÂU TỨC, người nghĩa giải dẫn chứng trong kinh nói : “Pháp ấy bình đẳng, chẳng có cao thấp, ví như thủy ngân rơi xuống đất, giọt lớn viên tròn lớn, giọt nhỏ viên tròn nhỏ, cả đại địa không có pháp nào chẳng tương ưng với tự tâm”. Lúc Như Lai thành đạo, quán lại hạnh nghiệp tu hành từ nhiều kiếp đều như mộng huyễn, chẳng có kẻ làm, cũng chẳng có kẻ không làm cho nên nói: “Tu tập phạm hạnh như hoa đốm trên không; tọa nơi đạo tràng như bóng trăng trong nước, hàng phục quân ma trong gương, thành tựu Phật sự trong mộng”. Bởi do tâm này chưa thấu rõ, ở nơi bình đẳng thấy bất bình đẳng, vì bất bình đẳng nên tất cả sở tác do đó sanh khởi vậy.
     Tịch nghĩa giải :
     Tịch rằng : Kinh Viên Giác nói : “Tánh vốn bình đẳng”, người bất bình đẳng nói là bình đẳng, đã đáng ăn ba mươi gậy, còn dẫn chứng bao nhiêu trí giải, lại càng thêm bất bình đẳng.
     Kệ kết thúc :
     Kệ rằng :
          Đã đến quê nhà còn về đâu ?
          Nằm dài trong am nắng dọi cao.
          Trăm ngàn huyền diệu đều quên mất, 

          Suốt ngày mở cửa chẳng ai vào.