CHÁNH VĂN (36 - 45)

36. HỆ NIỆM QUAI CHƠN, HÔN TRẦM BẤT HẢO

     Dịch : Nổi niệm thì bị niệm buộc, thành trái với chơn; không niệm thì hôn trầm chẳng tốt. 
     Lời khai thị :
     Đại Tạng giáo điển là sợi dây xích chân, thân vàng trượng sáu (thân Phật) là một cọng cỏ. Một tiếng hét điếc tai ba ngày của Bá Trượng, một giỏ trầu trút ra của Ngưỡng Sơn, những lời nói này là ming ngói hay là châu báu ? Nếu ông nói : “Câu phải cũng quét, câu chẳng phải cũng quét” chính là ăn táo mà nuốt hột.
     Lời nghĩa giải :
     Tổ sư nói : HỆ NIỆM QUAI CHƠN, HÔN TRẦM BẤT HẢO, người nghĩa giải dẫn chứng trong kinh nói, “Tâm chẳng bị đạo trói, cũng chẳng gây nghiệp, ấy là người đắc đạo”. Hoặc dẫn chứng lời Đức Sơn nói : “Mảy may hệ niệm là nghiệp nhân tam đồ”. Còn nói : “Hành giả tham cứu, vừa có mảy may tình chấp mê, ngộ, thánh, phàm thì bị tri kiến mê, ngộ, thánh, phàm làm mù”. Cần phải một vật chẳng dính mắc, muôn duyên đều tẩy sạch, mới có thể hợp với chỗ thấy của cổ nhân.
     Tịch nghĩa giải :
     Tịch rằng : Đừng phỉ báng cổ nhân nhé ! Cổ nhân nói với ông : HỆ NIỆM QUAI CHƠN”, nhưng chính cái “một vật chẳng dính mắc” đã là quai chơn, tức là bị niệm trói rồi.
     Kệ kết thúc :
     Kệ rằng:
          Hệ niệm trái chơn, chơn chẳng trái,
          Hôn trầm chẳng tốt, tốt nơi nào ?
          Thùng sơn cứng chắc không lủng đáy,
          Thai trâu bụng ngựa đợi ông vào.
37. BẤT HẢO LAO THẦN, HÀ DỤNG SƠ THÂN
     Dịch : Tốt xấu không nên nhọc tinh thần, đâu cần phân biệt sơ hay thân.
     Lời khai thị :
     Triệu Châu khám phá rồi, thủy ngân không giả ; Vân Môn lỡ lời rồi, a ngùy (phẩn người) chẳng chơn. Tham thiền không linh nghiệm, đụng đâu mê đó, sự thấy là cái gai góc trong mắt, việc nghe là cái bệnh của lỗ tai. Ủa ! Có việc như thế ư ? Chỉ cần nói với họ : “Ngưỡng mặt ngó ngoài trời, xem ai ló đầu ra ?”.
     Lời nghĩa giải :
     Tổ sư nói : BẤT HẢO LAO THẦN, HÀ DỤNG SƠ THÂN, người nghĩa giải cho rằng : Do hệ niệm thì trái với chơn, đã trái với chơn thì lao nhọc tinh thần, vì nhọc tinh thần tất phân biệt sơ thân. Phải biết hệ niệm là cái nhân của sơ thân, sơ thân là cái quả của hệ niệm. Tổ sư nói hai chữ “Không cần”, cũng như việc tự cắn rốn vậy.
     Tịch nghĩa giải :
     Tịch rằng : Lời nói này như theo hình mèo mà vẽ con mèo, đại khái vẽ ra cũng giống, nhưng chuột chết còn chẳng thể bắt được, huống là chuột sống ư ? Nếu chẳng đích thân một dao cắt đứt mạng căn (chơn tham thật ngộ), thì những lời trên chỉ giúp cho việc luận đàm mà thôi.
     Kệ kết thúc :
     Kệ rằng :
          Tốt xấu chẳng nên nhọc tin thần,
          Dùng hết tinh thần càng chẳng thân.
          Đâu bẳng kẻ ngốc nơi thôn dã,
          Ăn no nằm dài hợp thiên chơn.
38. DỤC THỦ NHẤT THỪA, VẬT Ố LỤC TRẦN
     Dịch : Muốn chứng lấy nhất Phật thừa, chớ nên chán ghét lục trần.
     Lời khai thị :
     Mắt là quang minh pháp thân, tai là âm thanh pháp thân, mũi là trang nghiêm hương pháp thân, lưỡi là thanh tịnh vị pháp thân, thân là phổ giác pháp thân, ý là liễu tri pháp thân, đầy đủ sáu nghìn công đức, thành tựu Nhất thiết Chủng trí. Nhưng lúc tứ đại phân tán, xương thịt tan rã, lục căn đều biến diệt, vậy pháp thân đặt ở chỗ nào ?
     Lời nghĩa giải :
Tổ sư nói : DỤC THỦ NHẤT THỪA, VẬT Ố LỤC TRẦN, người nghĩa giải cho rằng : Nhất thừa là biệt danh của tự tâm, lục trần, lục thức, lục căn là biệt hiệu của tự tâm, đâu có thể chứng nhất thừa mà ghét lục trần ! Thế thì cũng như yêu tay chân mà bỏ vai lưng vậy. Phải biết, ngộ tâm này thì lục trần tức là Nhất thừa, mê tâm này thì nhất thừa tức là Lục trần. Bùi Tướng Quốc nói : “Nghịch nó tức phàm, thuận nó tức Thánh”. Kinh Lăng Nghiêm nói : “A Nan, ngươi muốn biết cái câu sinh vô minh, là gốc thắt kết khiến ngươi luân hồi trong sanh tử ấy, chính là lục căn của ngươi chứ chẳng phải vật khác; ngươi lại muốn biết đạo Vô Thượng Bồ Đề, khiến ngươi mau chứng quả tự tại giải thoát, tịch lặng thường trụ ấy, cũng chính là lục căn của ngươi chứ chẳng phải vật khác”.
     Tịch nghĩa giải :
     Tịch rằng : Lý giải cũng giống như rất đúng, nhưng cần phải biết : Nhất thừa là hư vọng, lục trần là phỉ báng, ngoài hai lối này, còn tránh khỏi được vọng và báng hay không?
     Kệ kết thúc :
     Kệ rằng :
          Sắc, thanh, hương, vị và xúc pháp,
          Lục trần xưa nay hợp Nhất thừa.
          Tình chấp lấy bỏ còn chưa dứt,
          Lại nơi đất bằng nổi sóng to.
39. LỤC TRẦN BẤT Ố, HOÀN ĐỒNG CHÁNH GIÁC
     Dịch : Chẳng cho lục trần là tốt hay xấu, thì đồng như chánh giác.
     Lời khai thị :
     “Ông chủ ! ”, “Dạ, dạ, dạ !”. Có đường chẳng đi, không dây tự trói. Nói “Lục trần là phải” thì trái với chơn, nói Lục trần là chẳng phải” lại thành lỗi lầm lớn. Lầm thì lầm, một cọng cỏ hiện thân vàng ròng, đảo ngược cưỡi hạc bay lên trời.
     Lời nghĩa giải :
     Tổ sư nói : LỤC TRẦN BẤT Ố, HOÀN ĐỒNG CHÁNH GIÁC, người nghĩa giải cho rằng : Chẳng có lục trần cũng chẳng có chánh giác, đều chỉ là diệu tâm sáng tỏ. Gọi là lục trần cũng được, gọi là chánh giác cũng được. Ông nếu ở nơi diệu tâm sáng tỏ này có chỗ không rõ, thì gọi là chánh giác cũng không rõ, đâu có việc gì khác ? Chỉ cái RÕ và KHÔNG RÕ này, khiến Phật, Tổ nhọc lưỡi mỏi miệng phân ra những điều hơn kém, đều do chẳng tin tự tâm mà ra.
     Tịch nghĩa giải :
     Tịch rằng : Xưa có một Tú tài, thi cử nhiều lần không đậu, bèn đốt bỏ bút mực, làm bài thơ “Trở về quê”, chê bai công danh như đàm dãi. Nhưng đến kỳ thi năm tới, vẫn đi vào trường thi như cũ. Người nói lời này cũng chẳng khác như vậy.
     Kệ kết thúc :
     Kệ rằng :
          Chẳng ghét lục trần đồng chánh giác,
          Đường vào cửa Thiền vẫn xa xôi.
          Cần phải ra tay bắt hư không,
          Phật cùng chúng sanh chôn một hầm.
40. TRÍ GIẢ VÔ VI, NGU NHƠN TỰ PHƯỢC
     Dịch : Người trí tự tại vô tác, kẻ ngu dụng tâm tự trói.
     Lời khai thị :
     “Dời chỗ gồ để lắp chỗ trũng, cắt cái dài để nối cái ngắn”. Trang Tử nói lời này tự cho là rất đúng, nhưng kiểm điểm lại, chỉ là tự sanh tính toán, so đo phân biệt. Duy có Mộc thượng tọa (tích trượng), chẳng tốt xấu cũng chẳng đúng sai, toàn thân chỉ là đen thù lù, suốt năm dựa bên góc thiền sàng.
     Lời nghĩa giải :
     Tổ sư nói : TRÍ GIẢ VÔ VI, NGU NHƠN TỰ PHƯỢC, người nghĩa giải cho rằng : Trí chẳng tự trí, do ngộ mà trí; ngu chẳng tự ngu, do mê mà ngu. Người trí ngộ tự tâm, tâm ngộ vốn vô tác; kẻ ngu mê tự tâm, tâm mê còn tự trói. Phải biết, cái vô tác của người ngộ, dù quỷ thần trời đất cũng chẳng thể khiến cho họ tác; cái tự trói của kẻ mê, dù muôn hiền ngàn thánh cũng chẳng thể mở trói cho họ. Vậy, trí và ngu đều do tâm tạo, đâu phải vật bên ngoài mà làm được !
     Tịch nghĩa giải :
     Tịch rằng : Chỉ thấy đầu dùi nhọn, chẳng thấy đầu đục vuông. Tại sao ? Phải biết vô tác tức tự trói, tự trói tức vô tác, nếu cho quả thật có hai lối, thì cách Tổ sư quá xa rồi !
     Kệ kết thúc :
     Kệ rằng :
          Kẻ ngu tự trói cần phải mở,
          Người trí vô tác trói chặt thêm.
          Chẳng dùng dao kiếm đã cắt đứt,
          Vì thương đồng tử mất thiên chơn.                 
41. PHÁP VÔ DỊ PHÁP, VỌNG TỰ ÁI TRƯỚC
     Dịch : Pháp chẳng là pháp, vọng tự chấp trước cho là pháp.
     Lời khai thị :
     Toàn thân là bệnh, toàn thân là thuốc, suy nghĩ chẳng đến, thoáng qua trước mặt. Thuốc tức là bệnh, bệnh tức là thuốc, trong hư không dễ nhào lộn, áo vải Thanh Châu khó mặc. Cũng chẳng bệnh, cũng chẳng thuốc, vạn tượng sum la một cục sắt, con lừa Dương Kỳ ba cái chân.
     Lời nghĩa giải :
     Tổ sư nói : PHÁP VÔ DỊ PHÁP, VỌNG TỰ ÁI TRƯỚC, người nghĩa giải cho rằng : Trúc xanh biên biếc đều là Chơn như, hoa vàng ngào ngạt đều là Bát nhã. Tất cả thanh, sắc trong hư không pháp giới, tìm một tướng đồng bất khả đắc, tìm một tướng dị bất khả đắc. Than ôi ! Người chẳng rõ lý này, chấp Phật thì bị Phật ngại, chấp pháp thì bị pháp ngại, vậy chấp Phật pháp còn bị chướng ngại, huống là chấp những thứ khác ư !
     Tịch nghĩa giải :
     Tịch rằng : Pháp nếu có khác thì chấp trước mới có khác, pháp đã chẳng khác thì chấp trước cũng chẳng khác, vì sao lại nói VỌNG TỰ CHẤP TRƯỚC ? Chỗ này nhìn Tổ sư không ra, thì những lời trước đều là hý luận.
     Kệ kết thúc :
     Kệ rằng :
          Pháp chẳng có khác, thể vốn đồng,
          Thđồng đâu có pháp hoằng dương !
          Đạt Ma chín năm chỉ hướng vách,
          Chẳng biết lấy gì truyền gia phong.
42. TƯƠNG TÂM DỤNG TÂM, KHỞI PHI ĐẠI THỐ
     Dịch : Đem tâm dụng tâm, há chẳng phải lầm lớn !
     Lời khai thị :
     Tâm, tâm, tâm, khó mò nắm. Ông già Thích Ca, 49 năm nói vuông nói tròn, hoặc tiểu hoặc đại, chú giải chẳng được, sau cùng niêm hoa thị chúng, chính là đem tâm dụng tâm, cũng khó tránh khỏi cái “Há chẳng lầm lớn” này. Đến đây việc đã là bất đắc dĩ, tạm đem cái Chánh pháp nhãn tạng, Niết Bàn diệu tâm để che lấp lỗi lầm.
     Lời nghĩa giải :
     Người nghĩa giải cho rằng : Ông muốn thành Phật là đem tâm dụng tâm. Muốn làm Tổ là đem tâm dụng tâm, cho đến muốn thoát sanh tử, trụ Niết Bàn, chứng Bồ Đề, dứt phiền não v.v... đều chẳng ra ngoài “Đem tâm dụng tâm”.
     Tịch nghĩa giải :
     Tịch rằng : Tuy vậy, cũng chỉ nói được một nữa, phải biết, tâm thể rộng lớn chẳng thể hạn lượng, ngay đó như đống lửa lớn, đụng vào liền đốt, chạm nhằm liền cháy. Dẫu cho ông, không muốn thành Phật làm Tổ v.v... cũng ra khỏi cái ĐEM TÂM DỤNG TÂM” chẳng được.
     Kệ kết thúc :
     Kệ rằng :
          Tức Phật là tâm, tâm là Phật,
          Ngay chỗ thừa nhận đã trái xa.
          Ca Diếp mỉm cười trước niêm hoa,
          Vô sự khi không bày đặt ra.
43. MÊ SANH TỊCH LOẠN, NGỘ VÔ HẢO Ố
     Dịch : Mê sanh tịch lặng và tán loạn, ngộ chẳng          tốt xấu yêu ghét.
     Lời khai thị :
     Lúc mê là mê cái ngộ, lúc ngộ là ngộ cái mê. Mê ngộ cả hai đều quên, đập vỡ cái vỏ vô minh. Vô minh đã tan, mê ngộ cũng hết, vậy hai cái lối này còn đt ở chỗ nào ?  cửa dùng ngói gạch, mặc cho y suy lường.
     Lời nghĩa giải :
     Tổ sư nói : MÊ SANH TỊCH LOẠN, NGỘ VÔ HẢO Ố, người nghĩa giải cho rằng : Bản thể chơn tịnh, tất cả chẳng còn. Kinh Lăng Nghiêm nói : “Vô lậu chơn tịnh, tại sao trong đó lại có thể dung nạp vật khác ?”. Người chưa ngộ lý này, trước mắt chẳng thấy tịch thì thấy loạn, chẳng thấy động thì thấy tịnh, chẳng biết động cũng là mê, loạn cũng là mê, tịch cũng là mê, cho đến thấy mình ngay đó thành Phật cũng là mê. Hễ thấu rõ được cái tâm mê này thì ngay đó giải thoát, mỗi mỗi thiên chơn, mỗi mỗi minh diệu. Đã chẳng thấy loạn, cũng chẳng biết tịch, nhị biên đều lìa, trung đạo chẳng lập, thì đâu còn tình chấp tt xấu để làm chướng ngại ư !
     Tịch nghĩa giải :
     Tịch rằng : Nói lời này rất gần rồi, nhưng mê từ đâu đến, ngộ từ đâu khởi ? Nếu biết được chỗ đến chỗ khởi, chẳng cần trừ mê, cả cái ngộ kia cũng không chỗ đặt để; nếu không, cứ đem cái mê cái ngộ theo tánh phân biệt, rốt cuộc chỉ tăng thêm bệnh kiến chấp mà thôi.
     Kệ kết thúc :
     Kệ rằng :
          Xưa nay thiên hạ ai từng ngộ ?
          Không ngộ làm sao nói có mê ?
          Bỗng nhớ Ôn Châu ngài Vĩnh Gia,
          Cớ gì một đêm ngủ Tào Khê ?
44. NHẤT THIẾT NHỊ BIÊN, LƯỢNG DO CHÂM CHƯỚC
     Dịch : Tất cả nhị biên đối đãi, đều do đo lường suy toán.
     Lời khai thị :
     Mở miệng nói nhằm, cất bước đạp phải, tất cả đều sẵn sàng, chẳng tin hãy hành cước, đợi y đi tới đường cùng, chẳng chỗ ở đậu, áo rách giày lủng, khi ấy xỏ mũi kéo quày đầu (ngộ), mới tin xưa nay uổng công tìm.
     Lời nghĩa giải :
     Tổ sư nói : NHẤT THIẾT NHỊ BIÊN, LƯỢNG DO CHÂM CHƯỚC, có người bày đặt chú giải rằng : Vừa thấy có loạn, liền thấy có tịch. Phải biết, loạn chẳng tự loạn, vì tịch nên loạn; tịch chẳng tự tịch, vì loạn nên tịch. Do đó các pháp lăng xăng, mới có sự đối đãi nhau sanh khởi. Nói hai chữ “CHÂM CHƯỚC” nghĩa cũng giống như hai chữ GIẢN TRẠCH” ở đầu bài MINH, vì tình thức giản trạch chưa tiêu, thì đối với nhị biên, tịch loạn v.v... kết thành cái niệm CHÂM CHƯỚC”, nếu chưa trừ được niệm này, thì tất cả chẳng được bt nhị vậy.
     Tịch nghĩa giải :
     Tịch rằng : Thế thì cái niệm CHÂM CHƯỚC” có phương tiện gì để trừ ? Nếu chẳng biết phương tiện gì, thì lời ông nói ở trên cũng là do CHÂM CHƯỚC” sanh khởi.
     Kệ kết thúc :
     Kệ rằng :
          Nhị biên vốn chẳng cần châm chước,
          Một đạo bình đẳng cũng vọng truyền.
          Gặp việc chưa thoát ngoài ngôn ngữ,
          Kiến đồng Phật Tổ cũng xót thương.
45. MỘNG HUYỄN KHÔNG HOA, HÀ LAO BÃ TRÓC
     Dịch : Việc mộng huyễn như hoa đốm trên không, đâu cần nắm bắt cho mệt nhọc.
     Lời khai thị :
     Mai rùa đen (vô minh), bụng trống rỗng, trái cân sắt, thật cứng chắc. Chỉ có Mộc thượng tọa, chẳng bị người xuyên tạc, sáng cưỡi trâu Thiểm Phủ, chiều cưỡi hạc Dương Châu.
          Có khi ban ngày chạy về nhà,
          Khi gỏ hư không tự vấn đáp.
          Khúc hát ‘Về quê” tiếng chưa dứt,
          Mây bay chân trời lặn ngôi sao.
     Lời nghĩa giải :
     Tổ sư nói : MỘNG HUYỄN KHÔNG HOA, HÀ LAO BÃ TRÓC, người nghĩa giải dẩn chứng trong kinh nói : “Tất cả pháp hữu vi, như mộng, huyễn, bọt, bóng, như sương lộ, điện chớp, nên tác quán như thế”. Còn dẫn chứng Ngài Vĩnh Gia nói : “Buông tứ đại, chớ nắm bắt, trong tánh tịch diệt cứ ăn uống, các hạnh vô thường tất cả không, tức là Như Lai đại viên giác”, bèn mặc tình phan duyên, tùy ý tạo tác, cho đến hủy phạm giới cấm, phá hoại luật nghi, đều lấy hai lời này để dẫn chứng.
     Tịch nghĩa giải :
     Tịch rằng : Nhưng chẳng biết ngay lúc buông lung tình ý, quả thật thấy những cảnh sở duyên như mộng huyễn không hoa hay không ? Nếu thấy là không hoa thì chẳng nên đeo đuổi, nếu trong lòng còn giữ một mảy may phan duyên đeo đuổi thì chẳng thể cho là mộng huyễn không hoa rồi. Phải biết, thành Phật làm Tổ cũng là mộng huyễn không hoa, ngoài ra đâu còn cái gì chẳng phải mộng huyễn ? Lại càng nên biết, ngay cái thỉết “HÀ LAO BàTRÓC” đã là rơi vào mộng huyễn rồi. Việc này nếu chẳng đích thân chứng ngộ, mà chỉ muốn tùy theo ngữ ngôn lý giải, thì chẳng phải ngu là gì ?
     Kệ kết thúc :
     Kệ rằng :
          Thích Ca nửa đêm thấy ngôi sao,
          Cùng hiện bóng nghiệp trước gương đài.
          Làm thành một thứ mộng điên đảo,
          Chẳng biết ai là đắc tiện nghi.