CHÁNH VĂN (16 - 25)

16. TUYỆT NGÔN TUYỆT LỰ, VÔ XỨ BẤT THÔNG

     Dịch : Bặt nói bặt lo, chỗ nào cũng thông.
     Lời khai thị :
     Đạo Ngô múa hốt (cây hốt của quan triều đình), Thạch Cũng giương cung, Tây Hà sư tử, Trường Sa mãnh hổ, chẳng những bấy giờ tiếng tăm lừng lẫy, cho tới ngày nay gia phong vẫn còn lưu truyền, đến dưới cửa Tổ sư, phải khiến dấu chuột mất. Tại sao như thế ?
     Há chẳng thấy “Dùng nia đong gạo khác với cái lít, bàn ủi nấu trà không giống cái ấm” ? Cho nên nói : TUYỆT NGÔN TUYỆT LỰ, VÔ XỨ BẤT THÔNG”.
     Lời nghĩa giải :
     Hoặc có người y văn giải nghĩa rằng : Bặt nói thì đường ngôn ngữ dứt, bặt lo thì chỗ tâm hành diệt. Đường ngôn ngữ dứt thì tịch mà chiếu, chỗ tâm hành diệt thì chiếu mà tịch. Đến đây, Như Lai Thiền và Tổ Sư Thiền có thể xỏ chung một xâu. Cũng có cổ nhân bảo họ thôi đi nghỉ đi, khóe miệng lên meo, trên lưỡi mọc cỏ... đều không ngoài lý này.
     Tịch nghĩa giải :
     Tịch rằng : Lãnh hội như thế, giống như để nước đá trên ngọn lửa hồng, thật là không biết mắc cỡ. Nếu qua như lời nói ấy, thì đâu cần Tổ sư từ Tây Trúc sang !
     Kệ kết thúc :
     Kệ rằng :  
          Bặt nói bặt lo đồng người gỗ.
          “Khi nào thành Phật” Vĩnh Gia chê.
          Chưa ngộ trước lời thông huyền chỉ.
          Đem một mảy lông ngăn Thiết vi.
17. QUY CĂN ĐẮC CHỈ, TÙY CHIẾU THẤT TÔNG
     Dịch : Trở về cội gốc thì được ý chỉ, đuổi theo chiếu soi lại mất bản tông.
     Lời khai thị :
     Như thế, như thế, cho Tây là Đông; chẳng như thế chẳng như thế, nhận có là không. Chẳng như thế ở nơi như thế, giống như dùng lưới bắt gió ; như thế ở nơi chẳng như thế, như dùng giấy ướt để nhốt cọp. Tại sao ? Há chẳng nghe nói “QUY CĂN ĐẮC CHỈ, TÙY CHIẾU THẤT TÔNG” ư !
     Lời nghĩa giải:
     Một số người khéo suy lường rằng : “Bặt nói bặt lo” là trở về cội, “nơi nào cũng thông” là đắc tông chỉ. Nếu người lãnh hội theo nghĩa “về cội đắc chỉ” đó, thì lại đuổi theo chiếu soi làm lạc mất tông chỉ rồi. Nhưng CỘI vốn chẳng chỗ về, CHỈ cũng chẳng thể đắc, chẳng rõ nghĩa này, tự sanh vọng chấp, nói là TÙY CHIẾU. Nếu còn dấu tích chữ CHIẾU, thì tâm tông của chư Phật chư Tổ đã lạc mất quá lâu rồi.
     Tịch nghĩa giải :
     Tịch rằng : Quả có lời nói này ư ? Nếu thật như thế, thì cũng như kêu những Phật, Tổ từ xưa đến đây ăn gậy sắt của Diêm La Vương. Tại sao ? Vì họ QUY CĂN ĐẮC CHỈ vậy !
     Kệ kết thúc :
     Kệ rằng : 
          TUỲ CHIẾU, QUY CĂN đồng một việc,
          Chẳng cần đặc biệt hiển gia phong.
          Tâm trộm chưa chết trước cơ xảo,
          “ĐẮC CHỈ” đâu khác sự THẤT TÔNG !”. 
18. TU DU PHẢN CHIẾU, THẮNG KHƯỚC TIỀN KHÔNG
     Dịch: Phản chiếu chốc lát, hơn cả KHÔNG kia.
     Lời khai thị :
     Thấy đến hành đến, tâm thông thỉết thông. Hiển lộ con mắt trời người, mổ ra tấm lòng Phật Tổ. Ngược với vật, đuổi theo vật; giống như khác, chẳng phải khác. Giết người cứu người, nói đồng chẳng đồng. Đều cho đè ngang xuống một lượt, nửa đêm cửa biển mặt trời hồng.
     Lời nghĩa giải:
     Tổ sư nói : TU DU PHẢN CHIẾU, THẮNG KHƯỚC TIỀN KHÔNG, hạng người gượng nói đạo lý rằng : Đem sáng tối sắc không, dẫn nghĩa quy về tự kỷ gọi là PHẢN CHIẾU. Phải biết KHÔNG chẳng tự không, bởi tâm nên không ; CÓ chẳng tự có, bởi tâm nên có. Chúng sanh xa trái tự tâm, vọng thấy Không và Có, mà muốn theo nó hay bỏ nó, đều gọi là điên đảo.
     Tịch nghĩa giải :
     Tịch rằng : Lời nói đoán sai. Dưới cửa Thiền tông, tìm tâm trọn chẳng thể được, ai là người điên đảo ?
     Kệ kết thúc :
     Kệ rằng :
          Vốn chẳng phải chiếu đâu cần chiếu,
          Nói chi chốc lát với lâu dài.
          Hễ được kiến tánh siêu danh tướng,
          Hai việc lâu mau nghĩa đều sai.
19. TIỀN KHÔNG CHUYỂN BIẾN, GIAI DO VỌNG KIẾN
     Dịch : KHÔNG kia chuyển biến, đều do vọng kiến.
     Lời khai thị :
     Lư hương chùa cổ, lụa trắng một sợi, ngay đó siêu việc sanh tử, đều rơi vào phương tiện. Xưa nay chẳng tin tâm tự mê, lại nói Phật pháp không linh nghiệm. Dù có linh nghiệm, ngay đó liền thành Phật, thì vào địa ngục mau như tên bắn.
     Lời nghĩa giải :
     Tổ sư nói : TIỀN KHÔNG CHUYỂN BIẾN, GIAI DO VỌNG KIẾN, người nghĩa giải cho rằng : CÓ là vọng, KHÔNG cũng là vọng. Không và Có theo duyên thay đổi chẳng nhất định, muốn được lìa vọng, phải bài trừ cả hai.
     Tịch nghĩa giải :
     Tịch rằng : Thôi ! Thôi ! Trừ thì mặc tình cho y trừ, nhưng chẳng biết cái vọng sở trừ và cái tâm năng trừ đều chẳng lìa vọng. Nếu chẳng thể luôn cả cái trừ” đều trừ sạch, muốn thoát khỏi cảnh duyên vọng, khó mong có ngày. Vậy có phương tiện nào để trừ luôn cái “TRỪ” ?
     Kệ kết thúc :
     Kệ rằng :
          KHÔNG đâu có biến, biến phi Không,
          Trong mắt đừng có chứa núi sông.
          Ba Tư đáy nước thổi đá lửa,
          Mặt trời bay lên cửa biển đông.
20. BẤT DỤNG CẦU CHƠN, DUY TU TỨC KIẾN
     Dịch : Chẳng cần cầu chơn, chỉ cần dứt kiến.
     Lời khai thị :
     Dựng đứng xương sống như sắt, cầm ngang cây kiếm dài như trời, trong lúc động tịnh nhàn rộn, tất cả nhồi thành một khối. Đã tinh chuyên,lại dũng mãnh, đối với sự thành Phật làm Tổ chẳng cách một hạt bụi, đụng nhằm Tam Tổ, nói nhỏ với Ngài rằng : “Khéo léo xem phương tiện, chẳng cần cầu chơn, chỉ cần dứt kiến”.
     Lời nghĩa giải :
     Người học giáo lý cho rằng : Kiến chấp có 62 thứ, pháp số nêu ra đủ thứ, chẳng ra ngoài hai kiến : Đoạn và Thường. Cầu chơn rơi vào đoạn kiến, theo vọng rơi vào thường kiến. Kinh Lăng Nghiêm nói : Nói vọng để hiển chơn, vọng chơn là hai vọng, phi chơn phi chẳng chơn, nói chi kiến sở kiến”. Hễ lìa được tất cả kiến thì toàn thể tức chơn, chẳng cần cầu vậy.
     Tịch nghĩa giải :
     Tịch rằng : Phải thì cố nhiên là phải, nhưng Tổ sư nói CHỈ CẦN DỨT KIẾN”, vậy kiến làm sao dứt ? Nếu như có cái lý của dứt kiến, thì cái lý đó cũng trở thành kiến rồi.
     Kệ kết thúc :
     Kệ rằng :
          Tác ý cầu chơn, chơn liền ẩn,
          Tận tình dứt kiến, kiến càng sanh.
          Ngay cửa dù chẳng trồng gai góc,
          Nhưng đã không ai có lối đi.
21. NHỊ KIẾN BẤT TRỤ, THẬN VẬT TRUY TẦM
     Dịch : Nhị kiến đối đãi chẳng trụ, chớ nên đuổi theo để tìm.
     Lời khai thị :
     Dùng mũi kim gọt sắt, nơi mặt Phật cạo vàng, nói KHÔNG thì mảy may chẳng cách, nói CÓ thì bậc Thánh khó tìm. Ban ngày không thấy đường, nửa đêm lại sáng tỏ. Tuyệt đối đãi, lìa cổ kim, người đời đều biết hải hồ rộng, xuất ngoại mới biết nước bùn sâu.
     Lời nghĩa giải :
     Tổ sư nói : NHỊ KIẾN BẤT TRỤ, THẬN VẬT TRUY TẦM, người nghĩa giải cho rằng : Đã chẳng trụ vọng, cũng chẳng trụ chơn, luôn cái chẳng trụ cũng không trụ, chính ngay khi ấy đủ thứ đại dụng, tất cả toàn chơn, đâu cần lìa cái này để tìm cái khác !
     Tịch nghĩa giải :
     Tịch rằng : Ỷ ! Như những lời nói tương tự này, có ai không chứa một bụng hay nửa bụng, nhưng muốn gần bên cạnh Tổ sư thì chưa được.
     Kệ kết thúc :
     Kệ rằng :
          Các pháp bổn lai vô sở trụ,
          Nơi sở trụ bặt truy tầm.
          Đêm qua Tây đỉnh mặt trời lặn,
          Sáng nay y cũ chiếu rừng sâu.
22. TÀI HỮU THỊ PHI, PHẤN NHIÊN THẤT TÂM
     Dịch : Vừa có thị phi, thì lăng xăng lạc mất bn tâm.
     Lời khai thị :
     Căn chẳng lợi độn, đạo chẳng cạn sâu. Thiền tông có một câu “Phi cổ phi kim”, mò không đụng đáy. Tỉnh tọa nơi Đại viên Cảnh trí, dù được đụng đáy lại sâu vào rừng rậm tà kiến, Di Lặc, Thích Ca tự biết chẳng có phần, con chồn, con trâu ráng nín cười.
     Đêm cưỡi ngựa sắt chìm đáy biển,
     Mò được mũi kim hồi năm xưa.
     Lời nghĩa giải :
     Tổ sư nói : TÀI HỮU THỊ PHI, PHẤN NHIÊN THẤT TÂM, người ở tòng lâm thường nói : Khắp mười phương thế giới là Sa môn tự kỷ, khắp mười phương thế giới là Cổ Phật pháp thân. Cho nên nói : Lăng xăng chẳng phải vật khác, tung hoành đâu phải bụi trần, chẳng thị cũng chẳng phi, mỗi mỗi đều từ trong tâm diệu minh chảy ra”.
     Tịch nghĩa giải :
     Tịch rằng : Những lời nói này, tòng lâm gọi là việc thương lượng bình thường, cũng gọi là câu nói chuyển thân (vô trụ), ai cũng dùng hai câu này để dẫn chứng, xưa nay chẳng biết đã làm ô nhiễm bao nhiêu tâm địa trong sạch. Nên bậc đạo nhơn chơn thật quở nó là tạp độc, mắng nó là nước miếng con chồn, có người nào không chịu sự ma mị ấy chăng ? Cần phải mửa hết cho mau.
     Kệ kết thúc :
     Kệ rằng :
          Nói có thị phi, không thị phi,
          Nhà lớn cửa mở đợi ai vào.
          Gai góc đầy trời ngang đường cái,
          Đi qua ai chẳng bị vướng y.
23. NHỊ DO NHẤT HỮU, NHẤT DIỆC MẠC THỦ
     Dịch: Hai do một mà có, một cũng đừng nên giữ.
     Lời khai thị :
     Mặt trời mọc, mặt trăng lặn. Trời đất lâu dài, chỉ có Châu Kim Cang (Đức Sơn) không việc làm, cầm ngang cây gậy đi dọc đường, có ai hỏi ý Tổ sư từ Tây Trúc sang, nếu chẳng đánh vào sống lưng thì chụp ngay ngực, rồi nói : “Ngậm miệng chó lại !”, làm cho sum la vạn tượng híp mắt cười ha hả. Muốn đến nơi phải đợi ba mươi năm sau.
     Lời nghĩa giải :
     Tổ sư nói : NHỊ DO NHẤT HỮU, NHẤT DIỆC MẠC THỦ, người nghĩa giải cho rằng : Vừa theo hai, liền mê một ; vừa giữ một, liền sanh hai. Nên biết : Hai là chơn vọng, một là tự tâm. Cái HAI” của chơn vọng đã trừ. Cái “MỘT” của tự tâm chẳng trụ. Gọi là giải thoát trên đường đạo lớn vậy.
     Tịch nghĩa giải :
     Tịch rằng : Những lời nói này, ghi nhớ trong lòng cho là tham học, chẳng những chưa đủ tư cách để ăn gậy của Đức Sơn, mà gậy sắt của Diêm La Vương lại không thể thiếu phần cho ông.
     Kệ kết thúc :
     Kệ rằng :
          Bảo y một pháp cũng đừng giữ,
          Chẳng biết “đừng giữ” chưa thật nghèo.
          Đâu bằng say rượu nằm trên thảm,
          Rải ném vàng rng cho mọi người.
24. NHẤT TÂM BẤT SANH, VẠN PHÁP VÔ CỬU
     Dịch : Một tâm chẳng sanh khởi, muôn pháp chẳng đúng sai.
     Lời khai thị :
     Tô Châu có, Thường Châu có, sáu lần sáu : Ba mươi sáu; bảy lần bảy : Bốn mươi chín. Am chủ dựng lên nắm tay, Bá Trượng mở ra hai bàn (tay), sản xuất túi cơm (ám chỉ Tổ sư) một ngàn bảy, hiện ra đầu thần mặt quỷ. Con tôm đâu từng ra khỏi lưới.
     Lời nghĩa giải :
     Tổ sư nói : NHẤT TÂM BẤT SANH, VẠN PHÁP VÔ CỬU, người nghĩa giải dẫn chứng kinh luận rằng : “Tâm sanh mỗi mỗi pháp sanh, tâm diệt mỗi mỗi pháp diệt. Các pháp chẳng tự sanh, các pháp chẳng tự diệt, đều do một tâm biến hiện. Một tâm không sanh, các pháp thường trụ”. Cho nên người xưa có lời nói : “Trâu sắt không sợ sư tử rống, giống như người gỗ thấy chim, hoa”, chính là nghĩa này vậy.
     Tịch nghĩa giải :
     Tịch rằng : Đúng thì đúng rồi, nhưng Ngài Vĩnh Gia lại nói : Ai vô niệm, ai vô sanh ? Nếu thật vô sanh thì vô bất sanh, kêu người gỗ máy đến hỏi thử, dụng công cầu Phật lúc nào thành ?”. Vậy lời nghĩa giải trên dường như trái ngược, xin hỏi : Bất sanh là phải hay vô bất sanh là phải ? Thử xác định xem !
     Kệ kết thúc :
     Kệ rằng :
          Vạn pháp xưa nay chẳng đúng sai,
          Một tâm đâu có sanh, bất sanh.
          Lòng Từ dặn dò dù tha thiết,
          Tiếng sáo chăn trâu khó hợp đàn.
25. VÔ CỬU VÔ PHÁP, BẤT SANH BẤT TÂM
     Dịch : Chẳng đúng sai thì chẳng phải pháp, cũng chẳng sanh cái tâm chấp “chẳng phải tâm”.
     Lời khai thị : 
     Núi Thái Hoa không hiểm, biển mênh mông chẳng sâu; bài thơ “Nguyệt thực” của Lư Đồng đâu có khó đọc, khúc Thái cổ” của Bá Nha thật có tri âm. Chỉ có Ám hiệu tử” của Đông Sơn nắm thì không kẻ hở, buông thì rất khó tìm, làm phiền bao nhiêu người lanh lợi, chen lấn tranh giành đến ngày nay.
     Lời nghĩa giải :
     Tổ sư nói : VÔ CỬU VÔ PHÁP, BẤT SANH BẤT TÂM, người nghĩa giải cho rằng : Hai câu này là ngược hai câu trên. Nói “KHÔNG ĐÚNG SAI” thì muôn pháp tự tiêu, “KHÔNG SANH” thì một tâm tự tịch, pháp tiêu tâm tịch, bản thể của chí đạo rõ ràng, chẳng đợi đắc mà đắc rồi.
     Tịch nghĩa giải :
     Tịch rằng : Xưa kia Tăng hỏi Triệu Châu : “Học nhân mới vào tòng lâm, xin thầy chỉ dạy”. Châu hỏi : “Ăn cháo rồi chưa ?”. Tăng nói : “Ăn rồi”. Châu nói : “Rửa chén bát đi !”. Tăng ấy ngộ liền. Vậy, Tăng ấy lúc bấy giờ ngộ chẳng đúng sai ư ? Ngộ chẳng phải pháp ư ? Ngộ không sanh ư ? Ngộ chẳng phải tâm ư ? Xin xác định xem !
     Kệ kết thúc :
     Kệ rằng :
          Chỉ vì lỗi chấp chẳng đúng sai,
          Sanh tâm đều bởi chấp “không sanh”.
          Đêm lạnh vượn khóc trăng đỉnh núi,
          Khác đường xưa nay không thể hành.