CHÁNH VĂN (1 - 8)

1. CHÍ ĐẠO VÔ NAN, DUY HIỀM GIẢN TRẠCH

     Dịch : Đạo cùng tột chẳng có gì khó, chỉ vì phân biệt mới thành khó.
     Lời khai thị :
     Thể dụng của tự tánh cùng khắp hư không, trí tuệ của con người chẳng thể suy lường. Mở cửa nhà lớn nhiệm mầu vô biên, vượt trên vạn tượng chiều sâu mà không đáy. Cơ xảo của Chư Tổ như: Tiếng hét Kim Cang Vương của Lâm Tế sấm sét oanh liệt, muốn nhìn bóng cũng còn khó, huống là thấy hình ; uy thế cây gậy của Đức Sơn như gió bão điện chớp, đuổi theo không kịp. Đào tạo ra Chư Tổ chẳng cho mình có công lao, gánh biển vác núi chẳng cần ra sức. Ông già Thích Ca thuyết pháp bốn mươi chín năm, bàn tay chỉ có thể nắm bắt hư không; một ngàn bảy trăm bạch niêm tặc (ám chỉ Tổ sư đã kiến tánh) có miệng chỉ có thể treo trên vách tường. Rất sẵn sàng mà khó hiểu biết, muốn ngay trước mặt chỉ bảo họ, thì gai góc đã nổi đầy trước cửa.
     Lời nghĩa giải :
     Tổ sư nói: CHÍ ĐẠO VÔ NAN, DUY HIỀM GIẢN TRẠCH, người nghĩa giải cho rằng: Hai câu này là cương yếu, cũng là bản chỉ của bài MINH. Nhưng một chữ TÍN bao gồm ngộ chứng, chẳng phải chữ Tín của tín hạnh. Cũng như các vị trong hội Pháp Hoa, lãnh hội Quyền trí, nhập vào Thật trí, lập ra phẩm Tín Giải để tỏ bày nguyện vọng, chư Tổ thấy đó gọi là chí đạo, chư Phật chứng đó gọi là Bồ Đề, chúng sanh mê đó gọi là vô minh, giáo môn hiển bày đó gọi là biển Giác, đều là tên gọi khác biệt của một tâm. Cho đến bao gồm danh tướng, thấu nhập sắc không, muôn ngàn đề mục, đường lối dù khác nhau, đâu có cái sai trái, tốt xấu, cũng không có ngăn cách mê ngộ, tất cả đều do đây mà hiển bày. Như “Cây bách” của Triệu Châu, “Vòng kim cang” của Dương Kỳ, “Cái chậu đất bể” của Mật An, Bánh sắt có nhân” của Đông Sơn, giống như dị đoan cùng tà pháp sôi nổi, vậy thì biết lời nói “CHÍ ĐẠO” đã hiện hành rồi. Do đó, thông suốt lý sự, dung thấu cổ kim, cho là VÔ NAN đã thành lời thừa. Nhưng Thánh phàm nhiễm tịnh, trước mắt toàn chơn, nếu sanh ra tình thức phân biệt thì trái hẳn với Chí Thể (tự tánh), nên mới nói DUY HIỀM GIẢN TRẠCH” vậy. Lời văn sau này dù khác, thảy đều không ngoài ý này.
     Tịch nghĩa giải (TỊCH là phủ nhận) :
     Tịch rằng : Hình như giống nhau, giống mà chẳng đồng. Lại hai chữ CHÍ ĐẠO, dẫu cho ông dùng hết ý thức để giải thích, đối với tông chỉ của VÔ NAN, cần phải tương ưng mới được. Nếu chẳng phải tự tâm khai ngộ, âm thầm khế hợp, bất khả tư nghì, dứt hẳn tri kiến, siêu việt ngôn ngữ danh tướng, muốn trông thấy tông chỉ của VÔ NAN, chẳng những xa cách như trời với đất, ở nơi căn và cảnh tương đi, đủ thứ sai biệt, nếu không thể ngay đó giải thoát, mà muốn đem cái đạo lý “vô nan không giản trạch” đó tồn chứa trong lòng, thì đâu chỉ nhận giặc làm con mà thôi ! Nên ở đây chẳng thể quên lời.
     Kệ kết thúc :
     Kệ rằng :
     Chí đạo không nên chê lựa chọn,
     Chớ nói lựa chọn đọa phàm tình.
     Cần phải đâm mù mắt mẹ đẻ,
     Ban ngày đốt đèn đọc MINH này.
2. ĐẢN MC TẮNG ÁI, ĐỔNG NHIÊN MINH BẠCH
     Dịch: Chỉ đừng yêu ghét thì rõ ràng minh bạch.
     Lời khai thị :
     Thẳng chẳng phải tùng, co chẳng phải gai, thông chẳng phải hư không, nghẽn chẳng phải vách tường, là đầu búa không lổ ném ngay mặt. Trái lại, thẳng vẫn là tùng, co vẫn là gai, thông vẫn là hư không, nghẽn vẫn là vách tường, vậy trời xanh biển rộng dính liền như cũ. Đêm qua người Ba Tư bắt được tên chánh tặc Tây Thiên trong Nam Hải, đợi trời sáng đốt đèn xem, thì ra bác hai Vương ở làng Đông.
     Lời nghĩa giải :
     Tổ sư nói : ĐẢN MẠC TẮNG ÁI, ĐỔNG NHIÊN MINH BẠCH, người nghĩa giải cho rằng : Chán sanh tử, ham Niết Bàn là yêu ghét; bỏ phiền não, lấy Bồ đề là yêu ghét ; hễ ở nơi pháp Thánh phàm chẳng còn mảy may cảm tình yêu ghét, thì tâm này tự nhiên minh bạch rồi.
     Tịch nghĩa giải :
     Tịch rằng : Thôi ! Thôi ! Dẫu cho ông tất cả đều chẳng yêu ghét, không màng luôn đến cái TA, nhưng đâu biết cái “Chẳng yêu ghét” đó đã thành yêu ghét rồi! Nếu chẳng phải đích thân thấy chỗ đứng của Tổ sư (kiến tánh), cứ chú giải như thế, có đúng ý Tổ sư từ Tây Trúc đến chăng ?
     Kệ kết thúc:
     Kệ rằng: 
          Trời che đất chở khắp mọi nơi,
          Mặt trời chiếu soi chẳng thiếu sót.
          Lại muốn ngồi trong nghĩa minh bạch,
          Chẳng biết hai chân dính nước sình.
3. HÀO LY HU SAI, THIÊN ĐỊA HUYỀN CÁCH
     Dịch : Xê xích mảy may, cách xa trời đất.
     Lời khai thị :
     Có căn cứ nhất định, lại không tiêu chuẩn phép tắc. Đem hư không lắp hư không, dùng mục đích phá mục đích. Mua đá được ngọc, dẫu cho Lục Tổ nói “chẳng hội”, Đạt Ma nói chẳng biết”, đều là dời hoa rũ bướm, chỉ hai đường dây dưa này, đã dẫn khởi gai góc đầy trời. Bỏ gai góc, Hải Thần chẳng quí dạ minh châu, nguyên nắm ném thẳng ngay vào mặt họ.
     Lời nghĩa giải :
     Tổ sư nói : HÀO LY HỮU SAI, THIÊN ĐỊA HUYỀN CÁCH, người nghĩa giải cho rằng : Pháp môn rộng lớn này, dù nói mê ngộ chẳng khác, nếu người còn mảy may tình cảm yêu ghét phân biệt chưa dứt sạch, thì như trời với đất cách nhau quá xa rồi.
     Tịch nghĩa giải :
     Tịch rằng : Giải thích như thế giống thì giống, phải thì chưa phải. Tại sao ? Vì còn thiếu một tiếng “Ồ” (ngộ), dẫu cho ông mỗi mỗi không sai, lý hợp với đạo, vẫn còn không khỏi cách xa như trời với đất.
     Kệ kế thúc :
     Kệ rằng :
          Nói chi có sai và không sai,
          Đều thành dụi mắt thấy hoa đốm.
          Muốn lìa mảy may việc càng nhiều,
          Trời đất xưa nay vẫn cách xa.
4. DỤC ĐẮC HIỆN TIỀN, MẠC TỒN ẬN NGHỊCH
     Dịch : Muốn được tự tánh hiện tiền, chớ còn tập khí thuận nghịch.
     Lời khai thị :
     Hai không là đôi, một không là chiếc, buông chẳng lìa, nắm chẳng hợp. Dương Kỳ mười năm đúc thành vòng kim cang, Đạt Ma chín năm nhìn vỡ vách tường sắt. Lúc Cổ Phật chưa sanh, bóng trăng hiện khắp ngàn sông; khi vũ trụ đã thành, gió mát sung mãn mười phương. Nói thuận chẳng thuận, nói nghịch đâu nghịch, quả giác linh dương ăn gậy sắt, trái cân bóp ra nước vàng ròng. (Con linh dương lúc ngủ treo sừng trên cây, dưới đất không có dấu tích, thở không ra tiếng, thợ săn khó tìm, dụ cho tự tánh không hình tướng số lượng. Trái cân bóp ra nước là việc vô lý, tự tánh ăn gậy sắt cũng là việc vô lý “hai” không là một, “một” không là chiếc... đều là việc vô lý. Pháp nào có thể lý giải thì chẳng phải tự tánh).
     .Lời nghĩa giải :
     Tổ sư nói : DỤC ĐẮC HIỆN TIỀN, MẠC TỒN THUẬN NGHỊCH, người nghĩa giải cho rằng : Tổ sư nói đến đây thành có mâu thuẫn. Tại sao ? Việc này vốn đã hiện tiền, còn muốn đắc cái gì nữa ? Kinh nói : “Chánh tánh vô bất thông, thuận nghịch giai phương tiện” (Tự tánh khắp hư không, chẳng có tương đối, nói thuận nói nghịch đều là phương tiện). Ở đây nếu bảo “MẠC TỒN” thì lại thành đoạn diệt rồi. Thật ra, ý Tổ sư chẳng phải vậy, chỉ dùng phương tiện khai thị cho hàng sơ học, cũng như người no (đã ngộ) thì không thèm đồ ăn ngon.
     Tịch nghĩa giải :
     Tịch rằng : Im đi ! Im đi ! Tổ sư ở dưới gót chân ngươi, dẫu cho đạp một cái tan nát, vẫn còn phải ba mươi năm nữa !
     Kệ kết thúc :
     Kệ rằng :
          Muốn được hiện tiền đuổi theo vọng,
          Chẳng còn thuận nghịch trái với chơn.
          Sung sướng, đau khổ, quên phân biệt,
          Cũng là con mắt dính bụi trần.
5. VI THUẬN TƯƠNG TRANH, THỊ VI TÂM BỆNH
     Dịch : Thuận nghịch tranh nhau, ấy là tâm bệnh.
     Lời khai thị :
     Bệnh chẳng phải tâm, tâm chẳng phải bệnh. Chớ đem cái cây hàng rào hữu lậu, cho là cán gáo múc nước sông. Tâm chẳng lìa thân, cũng chẳng phải tức là thân, cho là khác nhau thì bệnh càng nặng. Giải thích công án “Nhật diện Phật” của Mã Tổ thì bệnh nng càng nặng thêm. Chỗ tình chấp chưa dứt sạch thì dùng cam lồ cũng có thể giết người; khi cơ phong khế hợp thì dùng thuốc độc tỳ sương cũng cứu được mạng. Từ khi phương thuốc đưa nhau truyền, Đầu búa không lổ sanh nhiều bệnh.
     .Lời nghĩa giải :
     Tổ sư nói : VI THUẬN TƯƠNG TRANH, THỊ VI TÂM BỆNH, người nghĩa giải cho rằng : Sanh tử vô thường là tâm bệnh, kiến, văn, giác, tri là tâm bệnh, ttham hiền học đạo là tâm bệnh, thành Phật làm Tổ là tâm bệnh. Cần phải quên cả thuận nghịch, bặt cả Thánh phàm, muôn niệm đều bỏ, một lối Không tịch, chẳng nhờ thuốc thần diệu quí báu, thì cái gọi là “tâm bệnh” đó, tự nhiên không có chỗ đặt để rồi.
     Tịch nghĩa giải :
     Tịch rằng : Than ôi ! Phật pháp suy đồi, Tổ đình hoang vu, người bị mắc tâm bệnh cùng khắp thế gian, đều là kẻ tri giải nhập tâm, chấp thuốc thành bệnh, đó không phải là việc lạ, dẫu có Kỳ Bà (thần y đời xưa) tái thế cũng không cứu được bọn này.
     Kệ kết thúc :
     Kệ rằng:
          Thuận nghịch tranh nhau tâm sanh bệnh,
          Thuận nghịch đều quên, bệnh sanh tâm.
          Xưa nay tâm bệnh chết liên tiếp,
          Lại khoe phương thuốc hay như thần.
6. BẤT THỨC HUYỀN CHỈ, ĐỒ LAO NIỆM TỊNH
     Dịch: Chẳng biết huyền chỉ, uổng công niệm tịnh.       
     Lời khai thị :
     Cả đại địa là bánh xe sắt lửa hồng, cả đại địa là Đại viên Cảnh trí. Con chồn con trâu nay vốn chẳng mê, Di Lặc, Thích Ca xưa cũng đâu chứng. Mây trắng lững lờ, chẳng nắm chẳng buông; mặt trăng qua lại, đâu động đâu tịnh. Gom trần sa trong vòng pháp giới, nhốt pháp giới trong hang thái hư. Lúc một người phát chơn quy nguyên (kiến tánh) thì mười phương hư không thảy đều tiêu mất là thế nào ?
          Con tò vò nuốt mất núi Tu Di,
          Con khỉ giựt mình xuất Đại định.
     Lời nghĩa giải :
     Tổ sư nói : BẤT THỨC HUYỀN CHỈ, ĐỒ LAO NIỆM TỊNH, người nghĩa giải cho rằng : HUYỀN CHỈ tức CHÍ ĐẠO, thể đồng tên khác. Nếu chẳng biết được, dẫu cho niệm tịnh trải qua hằng sa kiếp, tu chứng đủ loại, cũng là ngoài tâm cầu pháp, chỉ tự thêm lao nhọc, Tổ sư cũng không chấp nhận.
     Tịch nghĩa giải :
     Tịch rằng : Huyền chỉ như kiếm bén Kim Cang, kẻ chẳng biết cố nhiên là tán thân mất mạng, biết được cũng không khỏi chạm nhm bị thương. Vậy có phương tiện nào tránh khỏi được hai lỗi này ?
     Kệ kết thúc :
     Kệ rằng :
          Huyền chỉ có ai tự biết được ?
          Thích Ca, Di Lặc còn đang mơ.
          Đáng thương cho kẻ chìm Không tịch,
          Cô đơn ở núi lạnh nhiều năm.
7. VIÊN ĐỒNG THÁI HƯ, VÔ KHIẾM VÔ DƯ
     Dịch : Tròn đồng thái hư, không thiếu không dư.
     Lời khai thị :
     Vốn chẳng dư thiếu, lại có tính toán. Trang Chu gọi “Vạn vật là con ngựa”, Long Môn cho “Mười phương là con lừa”. Giống như chung một đường, lại là chẳng cùng lối.
     Có nước mới được bóng trăng hiện,
     Vô tâm khó đắc dạ minh châu.
     Lời  giải nghĩa:
     Tổ sư nói : VIÊN ĐỒNG THÁI HƯ, VÔ KHIẾM VÔ DƯ, Tòng lâm bàn nhau rằng : Tâm này nơi Thánh chẳng thêm, nơi phàm chẳng bớt, tròn như hư không mỗi mỗi đầy đủ.
     Tịch nghĩa giải :
     Tịch rằng : Nói như thế, khác chi người đi tham học các nơi, ngồi chưa ấm chiếu, đem những lời này chứa đầy bụng, chỉ có thể dùng để đàm luận mà thôi. Hễ gặp một việc nào có dính chút lợi ích của mình, thì các niệm so sánh đắc thất nổi dậy ùn ùn, muốn khiến cho “VIÊN ĐỒNG THÁI HƯ” đâu có thể được ! Đối với việc này cần phải diệu ngộ, ngộ rồi đâu còn cảnh thứ hai để làm đối đãi ư !
     Kệ kết thúc :
     Kệ rằng :  
          Tò vò làm ổ trên mi muỗi,
          Muốn cùng đại bàng nối cánh bay.
          Nếu cho hư không chẳng thiếu kém,
          Mở mắt bị nhốt trong chiêm bao.
8. LƯƠNG DO THỦ XẢ, SỞ DĨ BẤT NHƯ
     Dịch : Bởi do thủ xả, cho nên bất như (Như là đúng như tự tánh).
     Lời khai thị :
     Tiến Phước nói “MẠC (đừng), Triệu Châu nói “VÔ(không), Tuyết Phong phóng ra con ba ba Nam Sơn, Vân Môn đánh chết cá lý ngư Đông Hải, Hưng Hóa đi dự trai tăng thôn làng, vào trong cổ miếu tránh gió bão ; Đơn Hà thiêu Phật gỗ, làm cho viện chủ rụng lông mày... những việc kể trên, đã nghi chết bao đại trượng phu.
     Lời nghĩa giải :
     Tổ sư nói : LƯƠNG DO THỦ XẢ, SỞ DĨ BẤT NHƯ, người nghĩa giải cho rằng : Tâm này đã tròn như thái hư, không thiếu tướng nào, tất cả đều như. Nếu ngươi ở trong pháp nhiễm tịnh vừa sanh tâm thủ xả thì BẤT NHƯ rồi.
     Tịch nghĩa giải :
     Tịch rằng : Nếu là bậc Tu sĩ tham học chơn chánh, thấy người nói những lời này, liền phun nước miếng vào mặt họ mà chẳng phải tánh nóng, vì tượng rồng chẳng thể làm mưa được.
     Kệ kết thúc :
     Kệ rằng :
          Hai việc thủ, xả đã bất như,
          Con trâu ai dám gọi con lừa.
          Bản thể Kim cang khắp pháp giới,
          Cũng là dưới hàm trồng lại râu