Kinh Kim Cang - Phần I

     1. PHÁP HỘI NHÂN DO

       Tôi nghe như vầy, một thuở Phật ở nước Xá Vệ, nơi tịnh xá Kỳ Thọ Cấp Cô Độc, cùng chúng Đại Tỳ Kheo một ngàn hai trăm năm mươi vị. Bấy giờ đến giờ ăn, Thế Tôn đắp y mang bát, vào đại thành Xá Vệ, theo thứ tự khất thực từng nhà trong thành xong, trở về chỗ ở thọ trai, rồi cất y bát, đại chúng rửa chân, trải tọa cụ cùng ngồi.

     2. THIỆN HIỆN KHỞI THỈNH

(Tu Bồ Đề là tiếng Phạn, nghĩa Hán là Thiện Hiện)

      Khi ấy, Trưởng lão Tu Bồ Đề ở trong đại chúng từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch vai áo tay phải, quỳ gối chân phải, chấp tay cung kính bạch Phật rằng:

     _ Hy hữu Thế Tôn! Như Lai khéo hộ niệm cho các Bồ Tát, khéo phó chúc cho các Bồ Tát. Bạch Thế Tôn! Những thiện nam tín nữ phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác nên an trụ tâm như thế nào? Hàng phục tâm như thế nào?

      Phật bảo:

     _ Lành thay! Lành thay! Tu Bồ Đề! Theo như Ngươi nói, Như Lai khéo hộ niệm cho các Bồ Tát, khéo phó chúc cho các Bồ Tát. Nay Ngươi hãy lắng nghe, Ta sẽ vì Ngươi nói rõ. Những thiện nam tín nữ phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác nên an trụ tâm như vầy, hàng phục tâm như vầy.

     _ Bạch Thế Tôn, con rất mong được nghe.

    3. ĐẠI THỪA CHÁNH TÔNG

     Phật bảo Tu Bồ Đề:

_ Các Bồ Tát Ma Ha Tát nên hàng phục tâm như vầy: Tất cả các loài chúng sanh, hoặc noãn sanh, hoặc thai sanh, hoặc thấp sanh, hoặc hóa sanh, hoặc hữu sắc, hoặc vô sắc, hoặc hữu tưởng, hoặc vô tưởng, hoặc phi hữu tưởng, hoặc phi vô tưởng, Ta đều khiến vào Vô Dư Niết Bàn mà diệt độ. Diệt độ vô lượng vô số chúng sanh như thế, mà thật ra chẳng có chúng sanh nào được diệt độ cả. Tại sao? Tu Bồ Đề! Nếu Bồ Tát có Ngã tướng, Nhơn tướng, Chúng sanh tướng, Thọ giả tướng ắt chẳng phải Bồ Tát.

LƯỢC GIẢI

    Tứ tướng có hai thứ :

  1. 1.   Mê Thức Tứ Tướng của phàm phu :

    Chấp thật cái thân Ngũ Uẩn này là ta, gọi là Ngã tướng. Bỏ Ngã tướng chấp vào toàn nhân loại gọi là Nhơn tướng. Bỏ nhân loại chấp vào toàn chúng sanh gọi là Chúng sanh tướng. Bỏ Chúng sanh tướng cho là chỉ có Chơn Như Phật tánh vĩnh viễn tồn tại trong thời gian gọi là Thọ giả tướng (thọ là thời gian).

  1. 2.   Mê Trí Tứ Tướng của Bậc Thánh :

      Bậc Thánh tâm biết có sở chứng, dù chứng đến thanh tịnh Niết Bàn đều thuộc về Ngã tướng. Nay ngộ thêm một bậc, biết chẳng phải ta chứng, siêu việt tất cả chứng, nhưng còn cái tâm năng ngộ gọi là Nhơn tướng. Nay tiến thêm một bậc nữa, liễu tri năng chứng năng ngộ là Ngã tướng, Nhơn tướng, chỗ Ngã tướng, Nhơn tướng chẳng thể đến (năng chứng năng ngộ chẳng thể đến), chỉ còn tâm liễu tri, gọi là Chúng sanh tướng. Rồi tiến thêm một bậc nữa, chiếu soi tâm liễu tri cũng bất khả đắc, chỉ một giác thể thanh tịnh, gọi là cứu kính giác, tất cả tịch diệt, cũng gọi là Niết Bàn. Nếu còn trụ nơi Niết Bàn thì mạng căn chưa dứt, gọi là Thọ giả tướng.

(Lược giải hết) 

       4. DIỆU HẠNH VÔ TRỤ

    _ Lại nữa, Tu Bồ Đề! Bồ Tát ở nơi các pháp, ưng vô sở trụ mà hành việc bố thí, tức là chẳng trụ sắc bố thí, chẳng trụ thanh, hương, vị, xúc, pháp bố thí. Tu Bồ Đề! Bồ Tát bố thí nên chẳng trụ nơi tướng như thế. Tại sao? Nếu Bồ Tát chẳng trụ nơi tướng bố thí thì phước đức chẳng thể suy lường.

      Tu Bồ Đề! Ý Ngươi thế nào? Hư không bên phương Đông có thể suy lường chăng?

     _ Bạch Thế Tôn, không.

    _ Tu Bồ Đề! Hư không bên các phương Nam, Tây, Bắc và trên, dưới có thể suy lường được chăng?

     _ Bạch Thế Tôn, không.

     _ Tu Bồ Đề! Bồ Tát bố thí chẳng trụ nơi tướng, phước đức cũng như vậy, chẳng thể suy lường. Tu Bồ Đề! Bồ Tát cần an trụ tâm như Ta đã bảo.

    5. NHƯ LÝ THẬT KIẾN

      _ Tu Bồ Đề! Ý Ngươi thế nào? Có thể nhờ thân tướng mà thấy Như Lai chăng?

     _ Bạch Thế Tôn, không. Chẳng thể nhờ thân tướng thấy được Như Lai. Tại sao? Như Lai nói thân tướng tức phi thân tướng.

      Phật bảo Tu Bồ Đề:

     _ Phàm tất cả tướng đều là hư vọng. Nếu thấy các tướng phi tướng, tức là thấy Như Lai.

LƯỢC GIẢI

      Ý Phật ở đây là phá chấp tướng. Nếu thấy các pháp có tướng là chấp vào tướng có. Nếu thấy các pháp không tướng là chấp vào tướng không. Nên ở đây Kinh nói “các tướng phi tướng”, mà nếu chấp vào phi tướng cho là chẳng phải tướng, cho là không tướng thì vẫn còn chấp tướng.

                                      (Lược giải hết)

    6. CHÁNH TÍN HY HỮU

      Tu Bồ Đề thưa rằng :

     _ Bạch Thế Tôn! Nếu có chúng sanh được nghe những lời nói, văn tự kể trên có thể sanh lòng tin chơn thật chăng?

       Phật bảo :

      _ Tu Bồ Đề, đừng nói vậy! Sau khi Như Lai diệt độ năm trăm năm về sau, từ tượng pháp cho đến mạt pháp, nếu có người tu phước trì giới đối với lời nói, văn tự kể trên được sanh lòng tin, cho đó là thật. Phải biết người ấy đã nghe lời nói văn tự này, cho đến được một niệm sanh khởi lòng tin trong sạch, là vì đã từng gieo trồng thiện căn nơi muôn ngàn vô lượng Phật, chứ chẳng phải gieo trồng thiện căn nơi một Phật, hoặc ba, bốn, năm Phật. Tu Bồ Đề! Như Lai biết rõ, thấy rõ những chúng sanh ấy được vô lượng phước đức như thế. Tại sao? Vì những chúng sanh ấy chẳng còn có Ngã tướng, Nhơn tướng, Chúng sanh tướng, Thọ giả tướng, chẳng chấp pháp tướng, cũng chẳng chấp phi pháp tướng. Tại sao? Vì những chúng sanh ấy nếu khởi tâm chấp tướng (tiền trần) tức là dính mắc bốn tướng, Ngã, Nhơn, Chúng sanh, Thọ giả. Nếu chấp pháp tướng (pháp trần) cũng là dính mắc bốn tướng, Ngã, Nhơn, Chúng sanh, Thọ giả. Nếu chấp phi pháp tướng (là bóng phân biệt của pháp trần), cũng là dính mắc bốn tướng, Ngã, Nhơn, Chúng sanh, Thọ giả. Vì thế chẳng nên chấp pháp, chẳng nên chấp phi pháp. Do nghĩa này Như Lai thường nói: Các Tỳ Kheo phải biết lời thuyết pháp của Ta ví như chiếc bè qua sông, đến bờ thì phải bỏ bè; vậy pháp còn phải bỏ, huống là phi pháp!

7. VÔ ĐẮC VÔ THUYẾT

     _ Tu Bồ Đề! Ý Ngươi thế nào? Như Lai có chứng đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác chăng? Như Lai có thuyết pháp chăng?

      Tu Bồ Đề đáp:

     _ Như con hiểu nghĩa của Phật nói thì chẳng có pháp nhất định gọi là pháp Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, cũng chẳng có pháp nhất định cho Như Lai thuyết. Tại sao? Vì pháp của Như Lai thuyết đều chẳng thể chấp thật, chẳng thể nói là pháp, là phi pháp hay phi phi pháp. Tại sao? Vì tất cả Hiền Thánh đều dựa theo pháp vô vi mà nói có sai biệt.

LƯỢC GIẢI 

       Tất cả Hiền Thánh đều dựa theo pháp vô vi mà nói có sai biệt:

       Pháp vô vi tức là pháp vô sanh, chẳng thể tu chứng, chẳng thể suy lường, chẳng thể diễn tả. Nay dựa theo đường đi vô vi, vì chưa đến chỗ vô vi nên mới có đủ thứ

       sai biệt như Thập tín, Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng, cho đến Thập địa, Đẳng giác, nếu đã đến Diệu giác tức là chỗ vô vi thì chẳng còn sai biệt.

(Lược giải hết)

      Tất cả Hiền Thánh đều dựa theo pháp vô vi mà nói có sai biệt:

     Pháp vô vi tức là pháp vô sanh, chẳng thể tu chứng, chẳng thể suy lường, chẳng thể diễn tả. Nay dựa theo đường đi vô vi, vì chưa đến chỗ vô vi nên mới có đủ thứ

     Sai biệt như Thập tín, Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng, cho đến Thập địa, Đẳng giác, nếu đã đến Diệu giác tức là chỗ vô vi thì chẳng còn sai biệt.

(Lược giải hết)

8. Y PHÁP XUẤT SANH

    _ Tu Bồ Đề! Ý Ngươi thế nào? Như có người đem thất bửu đầy khắp cõi tam thiên đại thiên thế giới dùng để bố thí, người ấy được phước đức nhiều chăng?

     Tu Bồ Đề đáp :

     _ Bạch Thế Tôn, rất nhiều. Tại sao? Phước đức ấy tức phi phước đức tánh, nên Như Lai nói là phước đức nhiều.

      Phật bảo:

     _ Nếu có người thọ trì (tín thọ mà thực hành) kinh này, cho đến chỉ thực hành theo tứ cú kệ rồi giảng cho người khác nghe, thì phước đức lại nhiều hơn người kia. Tại sao ? Tu Bồ Đề ! Tất cả chư Phật và pháp Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác của chư Phật đều từ kinh này ra. Tu Bồ Đề, gọi là Phật pháp, tức phi Phật pháp.

GHI CHÚ :

Tứ Cú Kệ:

       Có là cú thứ nhất,

       Không là cú thứ nhì,

       Cũng có cũng không là cú thứ ba,

       Chẳng có chẳng không là cú thứ tư.

       Chẳng lọt vào tứ cú là thực hành theo tứ cú kệ.

                                                (Ghi chú hết)

    9. NHẤT TƯỚNG VÔ TƯỚNG

    _ Tu Bồ Đề! Ý Ngươi thế nào? Tu Đà Hoàn có thể nghĩ rằng “Ta đắc quả Tu Đà Hoàn”
 chăng?

    Tu Bồ Đề đáp:

    _ Bạch Thế Tôn, không ạ. Tại sao ? Tu Đà Hoàn gọi là Nhập Lưu mà vô sở nhập; chẳng nhập sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, ấy gọi là Tu Đà Hoàn.

   _ Tu Bồ Đề! Ý Ngươi thế nào ? Tư Đà Hàm có thể nghĩ rằng “Ta đắc quả Tư Đà Hàm” chăng ?

   _ Bạch Thế Tôn, không ạ. Tại sao? Tư Đà Hàm gọi là Nhất Vãng Lai mà thật chẳng vãng lai, ấy gọi là Tư Đà Hàm.

    _ Tu Bồ Đề! Ý Ngươi thế nào? A Na Hàm có thể nghĩ rằng “Ta đắc quả A Na Hàm” chăng?

    _ Bạch Thế Tôn, không. Tại sao? A Na Hàm gọi là Bất Lai mà thật chẳng phải bất lai, ấy gọi là A Na Hàm.

    _ Tu Bồ Đề! Ý Ngươi thế nào? A La Hán có thể nghĩ rằng “Ta đắc quả A La Hán” chăng ?

    _ Bạch Thế Tôn, không. Tại sao? Thật chẳng có pháp gọi là A La Hán. Thế Tôn! Nếu A La Hán nghĩ rằng “Ta đắc đạo A La Hán”, tức là dính mắc bốn tướng Ngã, Nhơn, Chúng sanh, Thọ giả. Thế Tôn! Phật nói con đắc Vô Tránh Tam Muội, là hạng nhất trong loài người, là hạng nhất trong bậc ly dục A La Hán. Thế Tôn! Nhưng con không nghĩ rằng con là ly dục A La Hán. Thế Tôn, nếu con nghĩ rằng con đắc đạo A La Hán, thì Thế Tôn chẳng nói Tu Bồ Đề là một hành giả thanh tịnh hạnh. Vì Tu Bồ Đề vốn là vô sở hành, nên mới gọi Tu Bồ Đề là hành giả thanh tịnh hạnh.

    10. TRANG NGHIÊM TỊNH ĐỘ

      Phật bảo:

   _ Tu Bồ Đề! Ý Ngươi thế nào? Xưa kia Như Lai ở nơi Phật Nhiên Đăng có đắc pháp gì chăng?

    _ Bạch Thế Tôn, không. Như Lai ở nơi Phật Nhiên Đăng thật vô sở đắc.

    _ Tu Bồ Đề! Ý Ngươi thế nào? Bồ Tát có trang nghiêm Phật độ chăng?

   _ Bạch Thế Tôn, không. Tại sao? Nói trang nghiêm Phật độ, tức phi trang nghiêm, thị danh trang nghiêm (nghĩa ba câu).

   _ Cho nên Tu Bồ Đề! Chư Bồ Tát Ma Ha Tát nên sanh tâm trong sạch như thế, là chẳng nên khởi tâm trụ sắc, chẳng nên khởi tâm trụ thanh, hương, vị, xúc, pháp, ưng vô sở trụ mà sanh kỳ tâm.

    _ Tu Bồ Đề! Ví như có người thân như núi chúa Tu Di, ý Ngươi thế nào? Thân ấy có đại chăng?

     _ Bạch Thế Tôn, rất đại. Tại sao ? Phật nói phi thân thị danh đại thân (chữ đại ở đây là siêu việt số lượng).

       LƯỢC GIẢI

     Nói trang nghiêm Phật độ, tức phi trang nghiêm, thị danh trang nghiêm.

     Đây là nghĩa ba câu trong Kinh này : Câu thứ nhất cho trang nghiêm Phật độ là thật ; câu thứ nhì dùng chữ PHI để phá cái chấp thật của câu thứ nhất ; câu thứ ba cho tất cả tên gọi đều là giả danh. Câu thứ nhất trang nghiêm Phật độ là giả danh, câu thứ nhì phi trang nghiêm cũng là giả danh, câu thứ ba thị danh trang nghiêm  cũng là giả danh. Vậy giả danh thì chẳng có nghĩa thật, cho nên Phật nói : “Phàm là lời nói đều chẳng phải nghĩa thật”.

(Lược giải hết)

    11. VÔ VI PHƯỚC THẮNG

      _ Tu Bồ Đề ! Như có nhiều sông Hằng bằng số cát trong một sông Hằng. Ý Ngươi thế nào? Số cát ở trong những sông Hằng ấy có phải nhiều chăng?

      Tu Bồ Đề đáp:

      _ Bạch Thế Tôn, rất nhiều. Chỉ những sông Hằng ấy cũng nhiều vô số rồi, huống chi là cát.

     _ Tu Bồ Đề! Nay Ta nói thật cho nghe, như có thiện nam tín nữ, đem thất bửu chứa đầy các đại thiên thế giới bằng số cát kể trên dùng để bố thí, được phước nhiều chăng?

      _ Bạch Thế Tôn, rất nhiều.

       Phật bảo Tu Bồ Đề:

      _ Nếu có thiện nam tín nữ thọ trì kinh này, cho đến chỉ thực hành theo tứ cú kệ, rồi giảng cho người khác nghe, thì phước đức lại nhiều hơn người kia.

     12. TÔN TRỌNG CHÁNH GIÁO

      _ Lại nữa, Tu Bồ Đề! Bất cứ nơi nào có thuyết kinh này, cho đến chỉ thuyết tứ cú kệ, phải biết nơi đó tất cả thế gian, Trời, Người, A Tu La đều nên cúng dường như tháp miếu của Phật, huống chi có người được thọ trì đọc tụng cả kinh này.

      Tu Bồ Đề! Nên biết người ấy thành tựu pháp hy hữu tối thượng hạng nhất. Vậy phàm nơi nào có kinh điển này tức là có Phật, được Phật tử tôn trọng.

     13. NHƯ PHÁP THỌ TRÌ

     Khi ấy Tu Bồ Đề thưa rằng:

     _ Bạch Thế Tôn! Kinh này nên đặt tên gì? Chúng con phải thọ trì như thế nào?

      Phật bảo Tu Bồ Đề:

     _ Kinh này tên là Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật, ngươi cứ theo tên gọi thọ trì. Tại sao ? Tu Bồ Đề, Phật nói Bát Nhã Ba La Mật, tức phi Bát Nhã Ba La Mật, thị danh Bát Nhã Ba La Mật (đây cũng là nghĩa ba câu đã được giải ở trên).

     _ Tu Bồ Đề! Ý Ngươi thế nào? Như Lai có thuyết pháp chăng?

    _ Bạch Thế Tôn, Như Lai vô sở thuyết.

    _ Tu Bồ Đề! Ý Ngươi thế nào? Tất cả vi trần trong tam thiên đại thiên thế giới có nhiều chăng?

     Tu Bồ Đề thưa :

     _ Bạch Thế Tôn, rất nhiều.

     _ Tu Bồ Đề! Như Lai nói những vi trần ấy tức phi vi trần, thị danh vi trần. Như Lai nói thế giới tức phi thế giới, thị danh thế giới (nghĩa ba câu).

     Tu Bồ Đề! Ý Ngươi thế nào? Có thể nhờ ba mươi hai tướng thấy Như Lai chăng?

    _ Bạch Thế Tôn, không. Chẳng thể nhờ ba mươi hai tướng thấy được Như Lai. Tại sao? Như Lai nói ba mươi hai tướng tức là phi tướng, thị danh ba mươi hai tướng (nghĩa ba câu).

     _ Tu Bồ Đề! Như có thiện nam tín nữ đem thân mạng nhiều bằng số cát sông Hằng dùng để bố thí; với người thọ trì kinh này, cho đến chỉ thực hành theo tứ cú kệ và giảng cho người khác nghe, thì được phước hơn người kia rất nhiều.

14. LY TƯỚNG TỊCH DIỆT

     Bấy giờ Tu Bồ Đề nghe Phật thuyết kinh này, hiểu thấu nghĩa thâm sâu, xúc động chảy nước mắt mà bạch Phật rằng:

    _ Hy hữu Thế Tôn! Phật thuyết kinh điển thâm sâu như thế, con từ khi được huệ nhãn đến nay, chưa từng được nghe kinh như vậy.

     Bạch Thế Tôn! Lại nếu có người nghe được kinh này lòng tin trong sạch, liền sanh thật tướng, phải biết người ấy thành tựu được công đức hy hữu hạng nhất.

       Bạch Thế Tôn! Đây nói thật tướng tức là phi tướng, cho nên Như Lai nói giả danh thật tướng (nghĩa ba câu).

      Bạch Thế Tôn! Nay con được nghe kinh này tín, giải, thọ trì chẳng cho là khó. Nếu năm trăm năm về sau, đời vị lai có chúng sanh nghe được kinh này, tín, giải, thọ trì thì người ấy là hy hữu hạng nhất. Tại sao? Vì người ấy vô ngã tướng, nhơn tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng. Tại sao? Vì ngã tướng tức là phi tướng, nhơn tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng cũng là phi tướng. Tại sao? Lìa tất cả chư tướng, tức gọi là chư Phật.

      Phật bảo Tu Bồ Đề:

     _ Đúng thế! Đúng thế! Lại nếu có người được nghe kinh này mà chẳng kinh ngạc, chẳng khiếp sợ, phải biết người ấy rất hy hữu. Tại sao? Tu Bồ Đề! Như Lai nói đệ nhất Ba La Mật, tức phi đệ nhất Ba La Mật, thị danh đệ nhất Ba La Mật  (nghĩa ba câu).

     Tu Bồ Đề! Như Lai nói nhẫn nhục Ba La Mật, tức phi nhẫn nhục Ba La Mật, thị danh nhẫn nhục Ba La Mật. Tại sao? Tu Bồ Đề! Như Ta xưa kia bị vua Ca Lợi xẻ nát thân thể, lúc đó ta vô ngã tướng, nhơn tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng. Tại sao? Vì xưa kia khi Ta bị phanh xẻ thân thể từng miếng, nếu có ngã tướng, nhơn tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng thì phải sanh tâm sân hận.

       Tu Bồ Đề! Nhớ lại kiếp quá khứ, Ta làm tiên nhẫn nhục trải qua năm trăm đời, những đời ấy đều vô ngã tướng, nhơn tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng. Tu Bồ Đề! Vì thế Bồ Tát phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác phải lìa tất cả tướng. Chẳng nên sanh tâm trụ nơi sắc, và cũng chẳng nên sanh tâm  trụ nơi thanh, hương, vị, xúc, pháp, nên sanh tâm vô sở trụ; nếu tâm có trụ tức là phi trụ, thị danh tâm trụ (nghĩa ba câu).

      Cho nên Phật nói tâm của Bồ Tát chẳng nên trụ nơi sắc bố thí, chẳng nên trụ nơi thanh, hương, vị, xúc, pháp bố thí. Tu Bồ Đề! Bồ Tát vì lợi ích tất cả chúng sanh, cần phải bố thí như thế. Như Lai nói: Tất cả các tướng tức là phi tướng; lại nói: Tất cả chúng sanh tức phi chúng sanh.

       Tu Bồ Đề! Như Lai là người chơn ngữ, thật ngữ, như ngữ, bất cuống ngữ, bất dị ngữ. Tu Bồ Đề! Pháp của Như Lai chứng đắc, ấy là pháp vô thật vô hư.

       Tu Bồ Đề! Nếu tâm của Bồ Tát trụ nơi pháp mà hành việc bố thí, thì cũng như người vào chỗ tối chẳng thấy gì cả. Nếu tâm của Bồ Tát chẳng trụ nơi pháp mà hành việc bố thí, thì cũng như người có mắt dưới ánh sáng mặt trời, tất cả thấy rõ đủ thứ sắc tướng.

        Tu Bồ Đề! Về đời sau này, nếu có thiện nam tín nữ thọ trì, đọc tụng kinh này, thì trí huệ của Như Lai biết rõ người ấy, thấy rõ người ấy, đều được thành tựu công đức vô lượng vô biên.

   LƯỢC GIẢI

        Ngũ ngữ : Chơn ngữ, thật ngữ, như ngữ, bất cuống ngữ, bất dị ngữ.

        Phật thuyết  chơn ngữ  là nghĩa chung với nhị thừa (có sanh tử để diệt, có Niết Bàn để chứng), thật ngữ : là nghĩa chung với Bồ Tát (nghĩa Đại thừa, sanh tử Niết Bàn đều như hoa đốm trên không), như ngữ : là nghĩa chẳng chung với Tam thừa (trí huệ chẳng thể suy lường, lời nói chẳng thể diễn tả), bất cuống ngữ : chẳng dối tức là vô hư, bất dị ngữ : thấy trước việc chưa đến gọi là bất dị, tức là vô thật, nên Phật nói pháp ấy là vô thật vô hư.

                                 (Lược giải hết).

    15. TRÌ KINH CÔNG ĐỨC

       _ Tu Bồ Đề! Nếu có thiện nam tín nữ, buổi sáng bố thí thân thể nhiều bằng số cát sông Hằng, buổi trưa lại bố thí thân thể nhiều bằng số cát sông Hằng, buổi chiều cũng bố thí thân thể nhiều bằng số cát sông Hằng, cứ bố thí thân thể như thế cho đến vô lượng trăm, nghìn, muôn ức kiếp. Với người nghe kinh điển này lòng tin vững chắc, thì được phước nhiều hơn người kia, huống chi lại còn biên chép, thọ trì, đọc tụng, giảng giải cho người khác nghe. Tu Bồ Đề ! Nói tóm lại, kinh này có công đức vô biên, bất khả tư nghì, chẳng thể suy lường. Như Lai vì người phát tâm Đại thừa và người phát tâm Tối thượng thừa mà thuyết. Nếu có người nào hay thọ trì, đọc tụng, phổ biến cho người, thì Như Lai biết rõ người ấy, thấy rõ người ấy đều được thành tựu vô biên công đức, bất khả tư nghì, chẳng thể suy lường. Những người như thế mới là gánh vác được đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác của Như Lai. Tại sao ? Tu Bồ Đề ! Nếu người ưa pháp Tiểu thừa, dính mắc ngã kiến, nhơn kiến, chúng sanh kiến, thọ giả kiến (chẳng ngoài sáu mươi hai kiến chấp), thì chẳng thể tín thọ, đọc tụng kinh này và giảng giải cho người khác nghe.

       Tu Bồ Đề! Bất cứ nơi nào, nếu có Kinh này, tất cả thế gian, Trời, Người, A Tu La, đều nên cúng dường. Phải biết chỗ đó chính là tháp Phật, đều nên cung kính lễ bái, dùng các thứ hương hoa rải quanh chỗ đó.